CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐÔ THỊ 1. Tổng quan về đô thị 1. Khái niệm về đô thị Đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định. Đô thị có quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
Phân loại đô thị 1. Đô thị loại đặc biệt Giữ vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên. Mật độ dân số nội đô bình quân từ 15.000 người/km² trở lên.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu vực nội đô từ 90% trở lên. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh. Hiện ở Việt Nam có hai thành phố được chính phủ xếp loại đô thị đặc biệt là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Hải Phòng cũng đang được xem xét là đô thị loại đặc biệt vào năm 2020, muộn nhất là 2025.
Đô thị loại I Giữ vai trò trung tâm quốc gia hoặc trung tâm vùng lãnh thổ liên tỉnh. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế có vai trò Nguyễn Lâm Toàn Luận văn thạc sĩ KHKT 6 thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước. Quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 500 nghìn người trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh. Mật độ dân số nội đô bình quân từ 12.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 10.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu vực nội đô từ 85% trở lên. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh. Hiện ở Việt Nam có 3 thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại I, gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ. 9 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại I, gồm: Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên, Nam Định và Việt Trì.
Đô thị loại II Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước. Quy mô dân số toàn đô thị từ 800 nghìn người trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 300 nghìn người trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh. Mật độ dân số nội đô bình quân từ 10.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 8.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở nội đô từ 80% trở lên.
Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh. Hiện nay có 11 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại II gồm: Biên Hòa, Hạ Long, Vũng Tàu, Hải Dương, Thanh Hóa, Mỹ Tho, Long Xuyên, Pleiku, Phan Thiết, Cà Mau, Tuy Hòa. Nguyễn Lâm Toàn Luận văn thạc sĩ KHKT 7 1. Đô thị loại III Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh; Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên.
Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km² trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động nội đô từ 75% trở lên. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh. Đô thị loại III có thể là một thị xã hoặc thành phố trực thuộc tỉnh.
Tại thời điểm 7/8/2010, Việt Nam có 32 đô thị loại III. Đến 1/10/2010, Việt Nam có 35 đô thị loại III. Đến 9/2011 có 37 đô thị loại III. Đô thị loại IV Chức năng đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh.
Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên. Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km² trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị đạt các tiêu chí quy định.
Kiến trúc, cảnh quan đô thị từng bước được thực hiện theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị. Các đô thị loại IV có thể là thị xã hoặc thị trấn. Đô thị loại V Chức năng đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã. Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên.
Nguyễn Lâm Toàn Luận văn thạc sĩ KHKT 8 Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km² trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: từng mặt đã hoặc đang được xây dựng tiến tới đồng bộ. Kiến trúc, cảnh quan đô thị từng bước được thực hiện theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
Các đô thị loại V là thị trấn. Một số mô hình đô thị 1. Đô thị khép kín sau bức tường thành Cho đến thời Trung cổ, ở châu Âu, cũng như ở châu Á, để phòng chống giặc giã, chiến tranh, một thành phố quan trọng thường được bao quanh bởi một bức tường thành kiên cố, có cổng ra vào được canh giữ nghiêm ngặt. Cũng có trường hợp ở bên trong lại có hoàng thành, do đó có thêm một bức tường thành thứ hai nữa để bảo vệ.
Còn phố, nơi thị dân sinh sống và làm ăn thì nằm ở bên ngoài hoàng thành (Hà Nội là một thí dụ).1: Mô hình đô thị khép kín sau bức tường thành (thời Trung cổ) [Nguồn internet] Ở những thời đó, thành thị và nông thôn xa cách nhau bằng hẳn một bức tường thành, ra vào có canh gác nghiêm ngặt. Vua chúa, quý tộc, thị dân và nông dân sống trong những khung cảnh khác hẳn nhau và hoàn toàn cách biệt. Nguyễn Lâm Toàn Luận văn thạc sĩ KHKT 9 1. Đô thị phát triển đồng tâm Song song với những thành phố được xây dựng hoàn toàn khép kín ở bên trong một bức tường thành này, có những thành phố đã phát triển dần dần từ những thôn làng, thị trấn, hay thị xã.
Đó là những trường hợp phổ biến nhất. Những thành phố này thường nằm ở tụ điểm của những trục giao thông thuỷ, bộ, những địa điểm thuận lợi cho việc thông thương, buôn bán, và sản xuất, hoặc có một giá trị nào đó về mặt cảnh quan. Tuy nhiên, quan niệm mở rộng những thành phố này đã tuân theo một quy luật rất tự nhiên, là mở rộng đều ra xung quanh, hạt nhân phố cổ nằm ở giữa như một cái lõi. Đó là một quan niệm quy hoạch khép kín: dường như người xưa không quan tâm đủ đến mối quan hệ hữu cơ, tất yếu, giữa thành thị và nông thôn.
Do đó, khi phát triển xây dựng theo các vòng đai đồng tâm, thì không gian đô thị ngày càng bị bưng bít, ngày càng dày đặc. Hơn nữa, càng xa trung tâm bao nhiêu, thì người dân thành phố càng cảm thấy xa với nông thôn bấy nhiêu.2: Mô hình đô thị đồng tâm [Nguồn internet] Nhu cầu được gần thiên nhiên của người dân thành phố là một nhu cầu bản năng, không phải chỉ vì người dân thành thị mà ở đâu cũng vậy, đều xuất thân là nông dân từ vài đời nay là cùng, mà chủ yếu vì họ ý thức được rằng môi trường thành thị ngày càng bị ô nhiễm. Nguyễn Lâm Toàn Luận văn thạc sĩ KHKT 10 Ngược lại, người dân ở nông thôn, ngoài nhu cầu lên thành phố để kiếm sống, còn có nhu cầu được biết bộ mặt sinh động và phong phú của thành phố, với những sinh hoạt văn hoá và giải trí đa dạng của nó. Những nhu cầu nói trên đều là những nhu cầu chính đáng, song đặt ra một bài toán hóc búa, mà với cấu trúc hiện nay của phần đông các thành thị và nông thôn, không thể nào thoả mãn được.
Mô hình Thành phố – Vườn (Đơn vị đô thị) Cuối thế kỷ XIX, ở nước Anh - nước đi đầu trong cuộc Cách mạng công nghiệp ở châu Âu (1780-1880), Ebenezer Howard, một viên chức nhỏ, không phải là một nhà quy hoạch, cũng không phải là một kiến trúc sư, đã có sáng kiến đề ra mô hình Thành phố - Vườn (1898). Ý tưởng mới mẻ này, đã có một ảnh hưởng lớn đến nền quy hoạch đô thị ở châu Âu và ở Mỹ trong suốt mấy thập kỷ sau. Mô hình Thành phố - Vườn là một sơ đồ hình tròn, với những vòng đai đồng tâm: ở trung tâm là một công viên lớn, xung quanh là vòng đai nhà - vườn, sau đó là một con đường lớn, rồi lại đến một vòng đai nhà - vườn. Ở vòng ngoài cùng là một đường vành đai nối liền đơn vị này với các đường giao thông và với những đơn vị khác.
Giữa các đơn vị Thành phố - Vườn là đất nông nghiệp.