CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TỪ TÀU BAY 1. Tổng quan về chất thải rắn 1. Nguồn phát sinh chất thải rắn Chất thải rắn (CTR) bao gồm tất cả các chất thải ở dạng rắn, phát sinh do các hoạt động của con người và sinh vật, được thải bỏ khi chúng không còn hữu ích hay khi con người không muốn sử dụng nữa (PGS.
Nguyễn Văn Phước, 2008). Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Theo Khoản 3 Điều 3 Nghị định này, chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người. CTR sinh hoạt phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, các khu tập thể, chất thải đường phố, chợ, các trung tâm thương mại, văn phòng, các cơ sở nghiên cứu, trường học,… 1.
Đặc điểm và thành phần chất thải rắn CTR sinh hoạt chiếm một lượng lớn ở khu đô thị, thành phần và khối lượng của CTR thay đổi theo từng vùng nơi phát sinh chất thải rắn. Đặc điểm và lượng CTR ở một vùng, khu vực không chỉ phụ thuộc vào mức sống và lối sống của dân cư vùng đó mà còn phụ thuộc và sự đa dạng về tài nguyên thiên thiên của vùng, khu vực đó. Chất thải khu đô thị có thể chia thành hai loại chính: chất thải hữu cơ và chất thải vô cơ. Nhìn chung, chất thải hữu cơ có thể phân thành 3 loại: chất thải hữu cơ có thể bị thối rữa; chất thải hữu cơ có thể lên men và loại chất thải hữu cơ không thể lên men.
Chất thải hữu cơ có thể bị thối rữa bị phân hủy nhanh chóng và khi phân hủy tạo ra mùi hôi thối khó chịu. Chất thải hữu cơ có thể lên men cũng phân hủy nhanh chóng nhưng không tạo ra mùi hôi thối khó chịu. Các chất thải hữu cơ không lên men phân hủy chậm. Nguồn thải chính của chất thải hữu cơ có thể bị thối 8 rữa chủ yếu là thức ăn, do đó thành phần này thay đổi phụ thuộc vào lối sống và điều kiện sống cũng như các chủng loại thức ăn.
Chất thải có thể lên men được phân thành 2 loại chất thải mùa màng và chất thải là gạch đá vụn. Chất thải rắn sinh hoạt ở các nước có khí hậu nhiệt đới, độ ẩm cao phần lớn là các loại thực vật. CTR ở các đô thị là vật phế thải trong sinh hoạt và sản xuất nên đó là một hỗn hợp phức tạp của nhiều vật chất khác nhau. Để xác định được thành phần của CTRSH một cách chính xác là một việc làm rất khó vì thành phần của rác thải phụ thuộc rất nhiều vào tập quán cuộc sống, mức sống của người dân, mức độ tiện nghi của đời sống con người, theo mùa trong năm,… Thành phần rác thải có ý nghĩa rất quan trọng trong việc lựa chọn các thiết bị xử lý, công nghệ xử lý cũng như hoạch định các chương trình quản lý đối với hệ thống kỹ thuật quản lý CTR.
Đối với nước ta do khí hậu nóng ẩm nên độ ẩm của CTR rất cao, thành phần rất phức tạp và chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân huỷ do đó tỷ trọng của rác khá cao. Thành phần hoá học của CTR đô thị bao gồm chất hữu cơ (dao động trong khoảng 40– 60%), chất tro, hàm lượng carbon cố định (hàm lượng này thường chiếm khoảng 5 – 12%). Các chất vô cơ chiếm khoảng 15 - 30%. Thành phần CTR sinh hoạt phụ thuộc vào mức sống.
Mức sống, thu nhập khác nhau giữa các đô thị đóng vai trò quyết định trong thành phần CTR sinh hoạt. Trong thành phần rác thải đưa đến các bãi chôn lấp, thành phần rác có thể sử dụng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ rất cao từ 54 – 77,1%; tiếp theo là thành phần nhựa: 8-16%; thành phần kim loại đến 2% và thành phần nguy hại để lẫn: 1%. Thành phần Chất thải rắn sinh tại đầu vào của các bãi chôn lấp của một số địa phƣơng năm 2009 – 2010 Loại chất Hà Nội Hà Nội Hải Hải Huế Đà HCM HCM Bắc Ninh thải (Nam (Xuân Phòng Phòng (Thủy Nẵng (Đa (Phƣớ (Thị trấn Sơn) Sơn) (Tràng (Đình Phƣơn (Hòa Phƣớc c Hồ) Cát Vũ) g) Khánh) ) Hiệp) Rác hữu cơ 53,81 60,79 55,18 57,56 77,1 68,47 64,50 62,83 56,90 Giấy 6,53 5,38 4,54 5,42 1,92 5,07 8,17 6,05 3,73 Vải 5,82 1,76 4,57 5,12 2.09 1,07 Gỗ 2,51 6,63 4,93 3,70 0,59 2,79 4,59 4,18 - Nhựa 13,57 8,35 14,34 11,28 12,47 11,36 12,42 15,96 9,65 Da, cao su 0,15 0,22 1,05 1,90 0,28 0,23 0,44 0,93 0,20 Kim loại 0,87 0,25 0,47 0,25 0,40 1,45 0,36 0,59 - Thủy tinh 1,87 5,07 1,69 1,35 0,39 0,14 0,40 0,86 0,58 Sành sứ 0,39 1,26 1,27 0,44 0,79 0,79 0,24 1,27 - Đất và cát 6,29 5,44 3,08 2,96 1,70 6,75 1,39 2,28 27,85 Xỉ than 3,10 2,34 5,70 6,06 - 0 0,44 0,39 - Nguy hại 0,17 0,82 0,05 0,05 - 0,02 0,12 0,05 0,07 Bùn 4,34 1,63 2,29 2,75 1,46 1,35 2,29 1,89 - Loại khác 0,58 0,05 1,46 1,14 - 0,03 0,14 0,04 - Tổng 100 100 100 100 100 100 100 100 100 Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011 1. Phân loại và thu gom chất thải rắn Công tác thu gom CTR sinh hoạt đô thị mặc dù ngày càng được chính quyền các cấp quan tâm, nhưng do lượng CTR ngày càng tăng, năng lực thu gom còn hạn chế cả về thiết bị lẫn nhân lực nên tỷ lệ thu gom vẫn chưa đạt yêu cầu.
Mặt khác, do nhận thức của người dân còn chưa cao nên lượng rác bị vứt bừa bãi ra môi trường còn nhiều, việc thu gom có phân loại tại nguồn vẫn chưa áp dụng rộng rãi do thiếu đầu tư cho hạ tầng cơ sở cũng như thiết bị, nhân lực và nâng cao nhận thức. Phân loại tại nguồn Phân loại chất thải tại nguồn sẽ giúp giảm thiểu lượng rác thải chôn lấp: rác thải hữu cơ được tái chế thành sản phẩm có ích, các chất thải như nhựa, giấy, kim 10 loại được tái chế thành nguyên liệu đầu vào hoặc sản phẩm tái chế. Đây là cơ sở để hình thành và phát triển thị trường tái sử dụng, tái chế chất thải. Các thành phố đã áp dụng thử nghiệm phân loại rác tại nguồn điển hình như TP.
Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng,… đã có những kết quả nhất định. Tuy nhiên, để triển khai nhân rộng hoạt động này cần phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng như: các thiết bị thu gom phân loại, địa điểm tập kết và trung chuyển, cơ sở hạ tầng cho công tác tái chế, tái sử dụng như nhà máy làm phân hữu cơ, các cơ sở tái chế chất thải, nhân lực, các chương trình nhằm nâng cao ý thức tham gia của người dân. Hiện nay, phân loại rác thại nguồn vẫn chưa được áp dụng, triển khai rộng rãi vì nhiều lý do như chưa đủ nguồn lực tài chính để mua sắm trang thiết bị, đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như nguồn nhân lực thực hiện, đặc biệt là thói quen của người dân. Tại một số địa phương triển khai thí điểm mô hình phân loại CTR tại nguồn ở giai đoạn đầu, do cơ sở hạ tầng khi tiến hành thí điểm dự án không đồng bộ và do hạn chế, thiếu đầu tư cho công tác thu gom vận chuyển và xử lý CTR theo từng loại nên sau khi người dân tiến hành phân loại tại nguồn, rác được công nhân URENCO thu gom và đổ lẫn lộn vào xe vận chuyển để chở đến bãi chôn lấp chung, do vậy, mục tiêu của chương trình phân loại rác tại nguồn chưa đạt được.
Do chưa thực sự quen với việc phân loại CTR tại n guồn nên tỷ lệ người dân tự nguyện tham gia phân loại rác còn thấp. Hình thức thu gom Việc phân loại CTR tại nguồn vẫn chưa được triển khai rộng rãi, vì vậy ở hầu hết các đô thị nước ta, việc thu gom rác thải chưa phân loại vẫn là chủ yếu. Công tác thu gom thông thường sử dụng 2 hình thức là thu gom sơ cấp (người dân tự thu gom vào các thùng/túi chưa sau đó được công nhân thu gom vào các thùng rác đẩy tay cỡ nhỏ) và thu gom thứ cấp (rác các hộ gia đình được công nhân thu gom vào các xe đẩy tay sau đó chuyển đến các xe ép rác chuyên dụng và chuyển đến khu xử lý hoặc tại các chợ/khu dân cư có đặt thùng chứa rác, công ty môi trường đô thị có xe chuyên dụng chở đến khu xử lý). 11 Một trong những bức xúc của các đô thị hiện nay trong công tác thu gom CTR là thiếu các địa điểm trung chuyển rác.
Hồ Chí Minh có 2 trạm trung chuyển lớn. Hà Nội chưa có trạm trung chuyển rác trong khi khoảng cách từ Hà Nội tới khu xử lý rác Nam Sơn khoảng 50km. Các thành phố khác cũng chưa có trạm trung chuyển rác đúng nghĩa như ở TP. Hồ Chí Minh.
Theo đánh giá hiện nay, hầu hết các đô thị mới chỉ có các điểm tập kết rác, tuy vận, các điểm tập kết này cũng chưa đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường. Công tác xã hội hóa việc thu gom và vận chuyển chất thải đang được thực hiện rộng rãi ở nhiều nơi. Chỉ ở các đô thị lớn cấp thành phố mới có URENCO đảm nhận việc thu gom, vận chuyển và xử lý CTR đô thị. Tuy nhiên vẫn có sự tham gia của các công ty cổ phần hoặc công ty tư nhân.
Trên địa bàn Hà Nội, ngoài URENCO là đơn vị đảm trách chính còn có khoảng gần 30 đơn vị tư nhân và tập thể khách tham gia thực hiện thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt. Tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn 1. Tái sử dụng và tái chế chất thải rắn Chất thải rắn sinh hoạt đô thị có thể tái sử dụng, tái chế thành các sản phẩm như: chất thải hữu cơ chế biến thành phân hữu cơ, làm thức ăn chăn nuôi; tái chế giấy, kim loại, nhựa, thủy tinh,… Tỷ lệ tái chế các chất thải làm phân hữu cơ và tái chế giấy, nhựa, thủy tinh, kim loại như sắt, đồng, chì, nhôm,… chỉ đạt khoảng 8 – 12% CTR sinh hoạt đô thị thu gom được. Xử lý phần hữu cơ của rác thải thành phân hữu cơ hiện là một phương pháp đang sử dụng ở Việt Nam.