MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời kỳ hội nhập cùng với những chuyển biến tích cực của nền kinh tế Việt Nam thì ngành nông nghiêp luôn luôn được coi là ngành quan trọng hàng đầu. Nhà nước ta đã chú trọng đầu tư và quan tâm nhiều hơn đến nông nghiệp. Song nông nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn và thách thức lơn như khả năng cạnh tranh so với các nước trong khu vực, gặp nhiều rủi ro, bất lợi do thời tiết, thị trường, thể chế chính sách…Những rủi ro bất lợi này thường tác động đến người dân.
Xét một cách toàn diện người dân luôn là người chịu thiệt thòi và luôn gặp khó khăn nhất trong cuộc sống. Xã Trọng Con có tổng diện tích tự nhiên là 7.691,20ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 7.390,06ha, đất lâm nghiệp 6.937,58ha , đất chưa sử dụng 189,44ha. Dân số 2131 người, gồm nhiều dân tộc anh em cùng chung sống với 481 hộ dân. Số hộ dân sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính, cây trồng chủ yếu là các loại cây lương thực như lúa, ngô, quýt…theo hướng tự cung tự cấp, các loại cây trồng khác chưa được chú trọng phát triển, các sản phẩm mang tính hàng hóa không đáng kể và còn manh múm, nhỏ lẻ.
Cho đến nay xã chưa có sự đầu tư thích ứng, để tạo những tiềm năng sẵn có ở địa phương trở thành thế mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn mới. Xã Trọng Con có điều kiện phù hợp cho phát triển nhiều loại cây trồng trong đó có cây thạch đen. Trong thời gian qua thạch đen đã được trồng ở nhiều nơi trên địa bàn, việc trồng thạch đen đã đem lại một nguồn thu nhập đáng kể cho một số hộ dân. Tuy nhiên việc phát triển cây thạch còn mang tính tự phát, chưa chú trọng việc áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong việc thâm canh loại cây trồng này nên năng suất thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao.
h 2 Đối với người dân Việt Nam hiện nay thu nhập của họ chủ yếu là từ cây trồng, vật nuôi phù hợp và dễ phát triển trên vùng đất của mình. Trọng Con với đơn vị hành chính là 10 thôn, hầu hết nông dân sống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu. Trọng Con là một trong những xã trồng nhiều thạch đen của huyện Thạch An. Trong những năm trước đây, thạch đen chủ yếu được trồng tại nương rẫy để phơi khô tích trữ dần để làm thạch ăn quanh năm, chưa trở thành hàng hóa.
Cây thạch trồng ở đây dài, tỉ lệ lá cao. Thạch đen chỉ trở thành hàng hóa khi nhiều thương gia đến thu gom với số lượng lớn, xuất khẩu sang Trung Quốc. Chính vì vậy, diện tích trồng thạch đen được tăng lên hằng năm. Tuy nhiên người trồng thạch đen vẫn đang gặp nhiều khó khăn do điều kiện khí hậu khắc nghiệt, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, giá cả thị trường không ổn định và chưa biết áp dụng khoa học - kỹ thuật nên hiệu quả sản suất còn chưa cao.
Phần lớn các hộ gia đình không dám đẩy mạnh sản xuất trồng thạch trên quy mô lớn hơn nên năng suất thấp dẫn đến đời sống có nhiều khó khăn. Xuất phát từ thực tế đó, việc xem xét tình hình sản xuất thạch đen tại địa phương và đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế cây trồng rất quan trọng. Đó là những cơ sở để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất cây thạch đen có hiệu quả hơn. Đó là lý do em chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất cây thạch đen tại xã Trọng Con – Huyện Thạch An – Tỉnh Cao Bằng”.
Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá được thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế của việc sản xuất cây thạch đen tại xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, đề tài có thể đề xuất được các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển cây thạch đen tại địa phương theo hướng ổn định, hiệu quả và bề vững. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng liên quan đến trồng trọt nói chung và sản xuất cây thạch đen nói riêng. - Đánh giá được thực trạng sản xuất thạch đen tại địa bàn xã Trọng Con. - Đánh giá được hiệu quả sản xuất cây thạch đen tại địa bàn xã Trọng Con.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế phát triển sản xuất thạch đen trong những năm tới. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra kết luận và những bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học và quen dần với công việc thực tế. Bước đầu đã biết vận dụng kiến thức vào lĩnh vực nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp một phần và việc đánh giá xác thực hiệu quả kinh tế của việc trồng cây thạch đen. Qua đó giúp người dân có cơ sở để có thể tiếp tục mở rộng sản xuất cây thạch đen và đưa ra giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây thạch đen trên địa bàn xã.
Đồng thời giúp cho các nhà lãnh đạo tại xã Trọng Con nói riêng và nông sản hàng hóa trên địa bàn huyện Thạch An nói chung. Những đóng góp mới của đề tài Góp phần đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế cây thạch đen nói chung và hiệu quả kinh tế tại xã Trọng Con nói riêng. Góp phần xây dựng nền kinh tế nông nghiệp liên tục phát triển. h 4 Đưa được thực trạng khó khăn mà người nông dân đang mắc phải để các ban, các cấp có thẩm quyền đề xuất phương hướng khắc phục và hỗ trợ nông dân vượt qua khó khăn.
Cho thấy sự yếu kém của các cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất cụ thể của địa phương. Đề tài giúp chỉ ra một số các giải pháp mang tính chất khả thi để tăng hiệu quả năng suất của cây thạch đen. Nâng cao chất lượng cuộc sống của bà con nông dân. Góp phần vào công cuộc chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Thúc đẩy việc nghiên cứu ra các giống mới cho năng suất và sản lượng cao hơn. Hỗ trợ đội ngũ cán bộ khuyến nông định ra các phương hướng phát triển sản xuất trong thời gian tới và đưa vào sản xuất vào cơ chế ổn định. h 5 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.
Hiệu quả kinh tế 2. Khái niệm hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế được hiểu theo nhiều cách khác nhau, một số khái niệm kinh tế được đưa ra như sau: - Hiệu quả kinh tế là là một phạm trù phản ánh mặt chất, mặt lượng của các hoạt động kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của nền sản xuất xã hội cho nhu cầu cuộc sống tăng, nhu cầu công tác quản lý, tổ chức. - Hiệu quả kinh tế là một phạm trù xã hội với những đặc trưng phức tạp nên đánh giá hiệu quả kinh tế là một vấn đề hết sức khó khăn và mang tính chất phức tạp. Mục tiêu của các nhà sản xuất và quản lý là một lượng dự trữ tài nguyên nhất định, tạo ra khối lượng sản xuất hàng hóa nhiều nhất, hay nói cách khác là một mức sản xuất nhất định cần phải làm như thế nào để có chi phí tài nguyên lao động thấp nhất.
Điều đó cho ta thấy hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra. - Hiệu quả kinh tế với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan, nó không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất. Mục đích cuối cùng của sản xuất là đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần văn hóa cho xã hội. Hiệu quả kinh tế phản ánh thực chất các nhu cầu của xã hội.
Vì thế việc nghiên cứu xem xét hiệu quả kinh tế không dừng lại ở mức độ đánh giá mà thông qua đó tìm ra các giải pháp phát triển sản xuất. Như vậy phạm trù hiệu quả kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sản xuất và phân tích kinh tế nhằm tìm ra những lợi pháp có lợi nhất [9]. Bản chất của hiệu quả kinh tế Theo quan điểm của Mác thì bản chất của HQKT xuất phát từ các yêu cầu cuả sản xuất và phát triển kinh tế xã hội. Đó là sự đáp ứng ngày càng cao nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.
HQKT là một phạm trù kinh tế - xã hội với những đặc trưng phức tạp nên việc xác định và so sánh hiệu quả kinh tế và vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn và mang tính tương đối. Hiệu quả là chi tiêu phản ánh có ý nghĩa khác nhau với từng loại với từng loại nông hộ. Đối với những hộ nông dân nghèo, đặc biệt là vùng kinh tế tự cung tự cấp thì việc tạo ra nhiều sản phẩm là quan trọng. Nhưng khi đi vào hoạch toán kinh tế trong điều kiện lấy công làm lãi thì người nông dân chú ý tới thu nhập, còn đối với những hộ nông dân sản xuất hang hóa, trong điều kiện thuê lao động thì lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng, đó là vấn đề hiệu quả.
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của nhà sản xuất là thu được lợi nhuận tối đa trong điều kiện nguồn lực hạn chế. Do đó HQKT có liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của quy trình sản xuất sẽ gặp phải những khó khăn nhất định. Đối với các yếu tố đầu vào: Do các tư liệu sản xuất tham gia vào quy trình sản xuất không đồng nhất và trong nhiều năm có thể rất khó xác định giá trị đào thải và các chi phí sửa chữa lớn nên việc tính toán khấu hao và phân bổ chi phí để xác định các chi tiêu hiệu quả có tính chất tương đối. Do sự biến động không ngừng của cả thị trường nên việc xác định chi phí cố định là không chính xác mà chỉ có tính tương đối.