CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản Kinh tế - xã hội là vẫn đề rộng lớn bao trùm mọi mặt hoạt động của mỗi quốc gia nói chung và của từng tỉnh, từng huyện, từng xã nói riêng. Một nội dung hàm chứa nhiều vẫn đề quan trọng liên quan đến nhiều lĩnh vực nhiều ngành khoa học có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Do vậy xây dựng và phát triển KT - XH là đề ra những định hướng và những giải pháp cụ thể phù hợp với từng vùng, từng địa phương.
∗ Phát triển: Là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội [3]. ∗ Phát triển kinh tế: “Trước hết là sự gia tăng nhiều hơn về số lượng và chất lượn sản phẩm, sự đa dạng về chủng loại sản phẩm nền kinh tế”[4]. ∗ Phát triển nông thôn: Theo Ngân hàng thế giới (1975) đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể là người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ phát triển”[4].
* Khái niệm phát triển bền vững: Là một quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương. Phát triển ý tưởng của Liên Hợp Quốc, Ủy ban quốc tế về phát triển và môi trường (1987) đã định nghĩa: “Phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”[4]. n 6 ∗ Khái niệm hộ nông dân: Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”[7]. ∗ Theo tác giả Ellis: “Hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao”[7].
∗ Khái niệm kinh tế hộ nông dân: “Kinh tê hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó các nguồn lực đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất - kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển”[7]. Các đặc trưng của kinh tế hộ Đặc trưng bao trùm của kinh tế hộ là các thành viên trong gia đình làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân và gia đình mình. Nhìn chung là kinh tế sản xuất nhỏ, mang tính tự cấp, tự túc hoặc sản xuất hàng hoá nhỏ với năng suất lao động thấp, nhưng lại có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng.Với những đặc trưng trên, tuỳ theo tình hình và điều kiện cụ thể của từng nước, từng vùng, từng loại hộ mà hình thành những đặc trưng cụ thể đa dạng về hình thức quản lý, về ruộng đất, quy mô, về vốn tài sản, lao động.
Sau đây, chúng ta sẽ xem xét những đặc trưng cụ thể : - Về hình thức quản lý: Trong nông hộ việc quản lý chủ yếu là người chủ hộ đồng thời cùng tham gia lao động với các thành viên trong gia đình. n 7 Có trường hợp giao cho các thành viên trong gia đình có năng lực uy tín quản lý. Mỗi hộ, nông trại là một đơn vị (kinh tế) kinh doanh tự chủ. - Ruộng đất: Ở nhiều nước trên thế giới ruộng đất do nông hộ, nông trại sử dụng thuộc sở hữu cá nhân.
Chủ nông hộ, nông trại vừa là người sử dụng ruộng đất vừa là người sở hữu ruộng đất. Đối với Việt Nam ruộng đất thuộc sở hữu của Nhà nước. Các nông hộ được giao quyền sử dụng đất lâu dài tùy theo từng loại đất mà hộ trồng các loại cây trồng hàng năm hoặc lâu năm. - Cơ cấu sản xuất của nông hộ, nông trại: Mỗi hộ đều có loại hình phát triển kinh tế riêng.
Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế của từng vùng, từng nông hộ có hình thức sản xuất khác nhau: Có loại nông hộ sản xuất mang tính độc canh, sản xuất chủ yếu là cây lương thực như ngô, lúa. Có nông hộ vừa trồng trọt, chăn nuôi vừa làm ngành nghề tiểu thủ công. Có hộ chuyên làm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản kết hợp với chế biến và một số ngành nghề khác. - Vốn và tài sản của hộ: Nhìn chung các hộ đều sử dụng vốn tự có để phát triển sản xuất và bảo đảm đời sống.
Tùy theo điều kiện và quy mô từng hộ mà số vốn sản xuất khác nhau. Các hộ trung bình và nghèo có ít vốn và thiếu vốn. Các hộ khá và giàu có vốn nhiều hơn nhưng vẫn thiếu vốn để mở rộng sản xuất. Nhiều hộ có nhu cầu vay vốn nhưng tùy thuộc vào điều kiện từng nước mà Nhà nước cho vay nhiều hay ít.
Ở các nước đang phát triển việc Nhà nước cho các hộ nông dân vay vốn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội ở nông thôn. Hiện nay ở nước ta Nhà nước đã có chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi để phát triển kinh tế gia đình. Về tư liệu sản xuất: Nhìn chung các hộ đều tự sắm các tư liệu sản xuất thông thường. Các hộ nông dân ta tùy theo từng vùng, địa phương sử dụng tư liệu khác nhau: các nông hộ ở miền núi chủ yếu dùng trâu, bò để cày, bừa, một số hộ có dùng máy móc cày thuê; ở vùng đồng bằng đất bằng phảng chủ yếu sử dụng công cụ máy móc để sản xuất.
n 8 - Lao động trong nông hộ: Trong kinh tế nông hộ lao động chủ yếu là do chủ hộ phân công các thành viên trong gia đình tham gia sản xuất. Những nông trại lớn có thể thuê lao động ngoài, nhưng lực lượng chủ yếu vẫn là các thành viên trong gia đình hoặc bà con họ hàng. Còn ở Việt Nam trong các nông hộ các thành viên trong gia đình thường làm đủ loại các công việc (trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ) do sự phân công hàng ngày của bố hoặc mẹ. Một số nông hộ giàu nhiều đất đai, nhiều ngành nghề có thêm một số lao động thời vụ có kỹ thuật hoặc thuê lao động thường xuyên.
Vai trò của kinh tế hộ Kinh tế hộ đã có từ lâu đời cho đến nay nó còm tồn tại và phát triển. Trải qua nhiều thời kỳ khác nhau thì kinh tế hộ biến đổi thành nhiều hình thức khác nhau, càng ngày nó càng khẳng định được tầm quan trọng và vai trò trong nền kinh tế quốc dân. Hiện nay, kinh tế hộ có vị trí quan trọng trong nền quốc dân nói chung, là thành phần cơ bản của nền nông nghiệp nông thôn nói riêng. Nó tồn tại một cách khách quan trọng xã hội bởi vì quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế xã hội là sự gia tăng của các ngành, các thành phần kinh tế mà trong đó kinh tế hộ thúc đẩy xã hội phát triển.
Bởi vì kinh tế hộ được coi là tế bào xã hộ, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của kinh tế nông nghiệp nông thôn nước ta, giúp nâng cao đời sống của người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ sẽ tác động đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và các hoạt động kinh tế của hộ sẽ có những thay đổi đáng kể. Quá trình này sẽ giảm nhẹ nặng nhọc lao động do sự phát triển của hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại, nhưng điều hành công việc của toàn bộ hệ thống sản xuất là do con người. Trên ý nghĩa đó, vai trò của hộ sẽ không bị lu mờ đi trong quá trình công nghiệp hóa và vai trò tạo nguồn lao động hộ là không thể thiếu được.
Tính tất yếu khách quan tồn tại của kinh tế hộ Lịch sử phát triển nông nghiệp của nhân loại đã chứng minh rằng: sự tồn tại và phát triển của hộ là một yếu tố khách quan, phù hợp với quy luật sản xuất của nông nghiệp. Thật vậy, sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm không giống với sản xuất công nghiệp. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là thực vật, động vật. Do yêu cầu của quy luật sinh học đối với cây trồng vật nuôi mà đòi hỏi nhà nông phải điều chỉnh hành vi từng ngày từng giờ, đòi hỏi sự chăm sóc cần mẫn của người lao động.
Những công việc của người dân trong quá trình sản xuất như: làm đất, gieo trồng, bón phân, chăm sóc, thu hoạch.không thể kiểm tra cân đong đo đếm được. Di vậy, sản xuất nông nghiệp chỉ thích hợp với trách nhiệm, chất lượng của lao động gia đình, phù hợp với kiểu sản xuất của hộ gia đình. Như vậy tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp đã quyết định sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ, với tư cách là đơn vị kinh tế độc lập trong mối liên hệ với các loại hình sản xuất khác. Ở nước ta, kinh tế nông hộ tồn tại qua nhiều gia đoạn lịch sử và có một vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội nông thôn.
Sản xuất nông nghiệp có tính đa dạng, phân tán, sự phức tạp của nó phù hợp với sản xuất của hộ nông dân hơn bất kỳ hình thức tổ chức sản xuất nào khác. Mặt khác, trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp thì công cụ lao động ngày càng được hiện đại hoá. Sự thay đổi này chỉ nhằm trợ giúp cho các quá trình sản xuất chứ không làm thay đổi bản chất của quá trình biến đổi với mục đích nhằm khai thác tốt hơn các điều kiện tự nhiên phục vụ con người.