Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số vấn đề về tăng huyết áp 1. Khái niệm huyết áp Huyết áp (HA) là thông số đo lực tác động của máu lên thành động mạch [7]. Huyết áp được tạo ra do lực co bóp của tim và sức cản của động mạch [7].
Huyết áp tâm thu là giá trị huyết áp cao nhất trong chu kỳ tim, tạo ra trong thời kỳ tâm thu. Huyết áp tâm trương là giá trị huyết áp thấp nhất trong chu kỳ tim, tương đương với thời kỳ tâm trương. Huyết áp bị ảnh hưởng bởi tim (sức co bóp và nhịp đập), độ của máu, thể tích máu lưu thông và bản thân thành mạch máu (sức đàn hồi). Theo tổ chức y tế thế giới World Health Organization (WHO), HA bình thường đo ở cánh tay là ≤ 120/80mgHg.
HA có đặc điểm thay đổi theo thời gian, trạng thái tâm lý và một số yếu tố khác [7]. Khái niệm tăng huyết áp Theo tổ chức y tế thế giới, tăng huyết áp (THA) khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg [7]. Tăng huyết áp có thể là tăng huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu, hoặc chỉ tăng một trong hai dạng đó. Các chỉ số huyết áp 120- 139/80-90mmHg, Uỷ ban quốc gia thứ 7 của Hoa Kỳ Joint National Committee 7 (JNC7) đã coi là tiền tăng huyết áp, nghĩa là sau này có nguy cơ bị tăng huyết áp thật sự cao gấp 2 lần so với người có huyết áp bình thường là < 120/80mmHg.
Phân độ tăng huyết áp Hiện nay phân độ tăng huyết áp thường được sử dụng trên lâm sàng là phân độ theo JNC 7 năm 2003 [34].1: Phân độ tăng huyết áp theo JNC 7 Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm trương Phân loại (mmHg) (mmHg) Bình thường < 120 và < 80 Tiền tăng huyết áp 120-139 hoặc 80-89 Tăng huyết áp độ 1 140-159 hoặc 90-99 Tăng huyết áp độ 2 > 160 hoặc > 100 1. Biến chứng tăng huyết áp Tăng huyết áp gây nên tổn thương ở nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt hay gặp là tổn thương ở tim, não, thận, mắt và mạch máu lớn. Những tổn thương này được gọi chung là tổn thương ở cơ quan đích hay biến chứng của THA. Các biến chứng của THA nguy hiểm không chỉ bởi vì có thể gây chết người, mà ngoài ra còn để lại những di chứng nặng nề (liệt do tai biến mạch não, suy tim, suy thận, mù lòa.) ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh (NB) và là gánh nặng của gia đình và xã hội.
Tim: Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân tử vong cao nhất đối với THA: dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành gây nhồi máu cơ tim, phù phổi cấp. THA thường xuyên sẽ làm cho thất trái to ra, về lâu dài, thất trái bị giãn, khi sức co bóp của tim bị giảm nhiều thì sẽ bị suy tim, lúc đầu suy tim trái rồi suy tim phải và trở thành suy tim toàn bộ. Về lâm sàng, lúc đầu NB mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, về sau với gắng sức vừa cũng khó thở và đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi đi ngủ. Ngoài ra NB còn có da xanh, phù, tím tái…[5].
Não: Tai biến mạch máu não thường gặp như: nhũn não, xuất huyết não có thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề. Có thể chỉ gặp tai biến mạch máu não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não do THA với lú lẫn, hôn mê kèm co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội [5]. 6 Thận: Vữa xơ động mạch thận sớm và nhanh, xơ thận gây suy thận dần dần, hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính. Giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ renin và angiotensin II trong máu tăng gây cường aldosteron thứ phát [5].
Mạch máu: THA là yếu tố gây xơ vữa động mạch, phồng động mạch chủ. Mắt: các biến chứng về mắt: mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị. Điều trị tăng huyết áp 1. Điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc Thay đổi lối sống làm giảm huyết áp và nguy cơ bệnh tim mạch, nên bắt đầu càng sớm càng tốt.
- Thay đổi chế độ ăn: + Ăn giảm muối (hạn chế bớt lượng muối ăn hàng ngày). + Tránh ăn các thức ăn nhiều mỡ. + Tăng cường ăn rau xanh, trái cây, tăng cường ăn cá. - Kiểm soát được cân nặng, người bệnh thừa cân cần có chế độ giảm cân.
- Tăng cường vận động thể lực. - Ngừng hút thuốc lá, thuốc lào. - Bỏ uống bia, rượu, bỏ các chất kích thích (cà phê, trà đặc). Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc Hạ HA đến mức mong muốn < 140/90mmHg hoặc < 130/80mmHg trên NB có kèm đái tháo đường (ĐTĐ) hoặc suy thận mạn mà không bị tác dụng phụ của thuốc hoặc xuất hiện triệu chứng như chóng mặt, buồn ngủ, giảm khả năng tự vệ….
Không hạ HA nhanh quá nhằm giảm tác dụng không mong muốn. Xác định mục tiêu điều trị là hạ HA đến mức bình thường với rất ít hoặc không tác dụng phụ của thuốc [2],[ 30]. Cần sử dụng thuốc điều trị có giá thành hợp lý để NB điều trị lâu dài. Có thể dùng viên thuốc phối hợp sẵn nhằm giảm số viên thuốc phải uống hàng ngày.
7 Dùng một loại thuốc quen thuộc, dùng liều nhỏ khởi đầu, sau tăng liều cho đến khi đạt hiệu quả kiểm soát HA. Khi loại thuốc đó không còn đáp ứng thì mới thay hoặc phối hợp với loại thuốc khác. Dùng phối hợp nhiều loại thuốc hạ áp trong THA cấp cứu, nặng và ác tính. Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp 1.
Ăn mặn Nguy cơ mắc bệnh THA thường hay gặp ở người có thói quen ăn mặn. Người dân ở vùng ven biển có tỷ lệ THA cao hơn so với người dân ở vùng đồng bằng và miền núi. Theo nghiên cứu của Đào Duy An năm 2007, trong chế độ ăn giảm natri mức độ trung bình không những làm giảm tỷ lệ mới mắc THA, chỉ số HA mà còn về lâu dài giảm được biến cố bệnh tim mạch, làm tăng tác dụng thuốc hạ huyết áp, giúp kiểm soát THA dễ dàng [1]. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Dung và Nguyễn Kim Kế đều chỉ ra tỷ lệ THA ở nhóm có thói quen ăn mặn cao hơn nhóm không ăn mặn [4],[16].
Hút thuốc lá, thuốc lào Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích thích, đặc biệt có chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây THA. Nghiên cứu của Nguyễn Dung năm 2011 tại Huế chỉ ra những người có thói quen hút thuốc lá tỷ lệ THA 18,2% cao hơn những người không hút thuốc lá tỷ lệ THA 16,2% [4]. Kết quả này cũng được khẳng định trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Triệu [25]. Đái tháo đường Ở những người bị ĐTĐ, tỷ lệ bị bệnh THA cao gấp đôi so với người không bị ĐTĐ.
Khi người bệnh có cả bệnh THA và ĐTĐ sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng ở các mạch máu lớn và nhỏ, làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong so với người bệnh THA đơn thuần. Vì vậy khi bị ĐTĐ, cần phải điều trị tốt bệnh này để góp phần khống chế được bệnh THA kèm theo. Vì ĐTĐ thường đi kèm với THA, nên việc xác định và điều trị ĐTĐ sớm chắc chắn sẽ tiết kiệm được chi phí chăm sóc sức khỏe. Người cao tuổi (NCT) có tiền sử mắc bệnh ĐTĐ có tỷ lệ mắc THA cao hơn 8 gấp 6 lần những NCT không bị mắc bệnh ĐTĐ đó là kết quả nghiên cứu tại huyện Gia Lâm, Hà Nội [27].
Rối loạn Lipid máu Nồng độ chất cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa động mạch, dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác trong cơ thể. Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và đây cũng chính là yếu tố làm THA. Vì vậy, cần ăn chế độ giảm lipid máu sẽ giúp phòng bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Thủy chỉ ra NB có rối loạn lipid máu chiếm tỷ lệ cao ở người bệnh THA và có liên quan khá chặt chẽ giữa rối loạn lipid máu với các yếu tố nguy cơ tim mạch [24].
Nhóm tăng triglycerid có nguy cơ THA cao gấp 1,34 lần so với nhóm triglyceride bình thường theo nghiên cứu của Nguyễn Thái Hoàng và cộng sự [14]. Tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp Tiền sử gia đình, nhất là trực hệ (bố, mẹ, anh, chị, em, ruột), có người mắc bệnh THA, béo phì, bệnh tim mạch, rối loạn lipid máu là nguy cơ cao cho thành viên trong gia đình mắc các bệnh mạn tính nói chung và THA nói riêng. Theo nghiên cứu của Nguyễn Kim Kế năm 2012, gia đình có người mắc bệnh THA thì nguy cơ THA cao gấp 3,8 lần gia đình không có người mắc bệnh THA [16]. Tương đồng với nghiên cứu của Trần Thanh Tú và Phạm Thị Liên năm 2011 [27].
Tuổi Tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng nhiều do thành động mạch bị lão hóa và xơ vữa, giảm tính đàn hồi, trở nên cứng hơn, làm cho huyết áp tâm thu tăng cao hơn, gọi là THA tâm thu đơn thuần. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Dung năm 2011 nhận thấy có mối liên quan giữa tuổi và THA. Độ tuổi > 55 có tỷ lệ THA cao là 42,0%, tiếp đến độ tuổi từ 45-54 có tỷ lệ THA là 13,8%, thấp nhất ở độ tuổi từ 25- 34 có tỷ lệ THA là 0,6%. Điều này lý giải do sự thay đổi cấu trúc và chức năng của các động mạch khi tuổi ngày càng tăng, làm giảm tỷ lệ lòng mạch/thành mạch [4].
9 Nghiên cứu của Nguyễn Văn Triệu chỉ ra số người mắc THA độ I và THA độ II người THA ở nhóm tuổi trung niên (45-60) cao hơn rõ rệt so với nhóm tuổi trẻ(18-44) lần lượt tương ứng 19,6%; 4,6% và 9,1%; 1,6% [25]. Thừa cân, béo phì Trọng lượng của cơ thể con người có mối quan hệ khá tương đồng với bệnh tăng huyết áp. Tỷ lệ THA tăng dần theo chỉ số cơ thể Body Mass Index (BMI), BMI càng cao, khả năng bị THA càng nhiều với nguy cơ tương đối càng cao [14].2: Phân loại BMI dành cho người Châu Á [32] Phân loại Giá trị BMI Gầy < 18.5 Bình thường 18.9 Thừa cân 23 Tiền béo phì 23 - 24.