Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm stress Walter Cannon (1927) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về stress. Stress được hiểu đơn thuần là phản ứng “cài đặt sẵn” của cơ thể trước những nhân tố gây hại nhằm huy động sức mạnh của cơ thé dé ứng phó [II]. Khái niệm “cài đặt sẵn” của Cannon gợi ý rằng chúng ta có thể dựa vào những biểu hiện của cơ thê để nhận ra mình đang trong tình trạng stress hay không vì những phản ứng của cơ thể này là có xu hướng lặp lại nên có thê dự đoán được đối với mỗi cá nhân.
Theo quan điểm hệ thống, Stress bao gom việc đương sự nhận định một sự kiện là có hại, de doa hoặc thách thức, và tiềm năng ứng phó của đương sự là không đầy đủ hoặc không hiệu quả. Những nhận định này là kết quả từ sự tương tác giữa các đặc trưng của đương sự đối tượng ủy thác, niềm tin, các ký ức và kinh nghiệm và những đặc trưng của sự kiện được nhận định khả năng tiên đoán, sự hạn định thời gian và tính nhập nhang. [11] Theo các định nghĩa này, khái niệm stress cũng có thể hiểu theo hai khía cạnh. Thứ nhất, tình huống stress chỉ các tác nhân xâm phạm hay kích thích gây ra, là những tác nhân vật lý, hoá học, tâm lý xã hội, gia đình, nghề nghiệp.
Thứ hai, đáp ứng stress dé chi trạng thái phản ứng với stress là phản ứng sinh lý và phản ứng tâm lý không đặc hiệu., stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thăng. Đó là những phản ứng nhằm khôi phục trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục được các tình huống bắt lợi để đảm bảo duy trì và thích nghỉ thoả đáng của cơ thé trước những điều kiện sống luôn luôn biến đổi. Khi một người mất khả năng thích nghỉ thì stress có thể phát huy tác dụng và người đó mắc bệnh. gọi đó là những phản ứng thích nghi.
Selye đã xác định được hậu quả y học của stress lên hệ thống miễn dịch, hệ thống đạ dày, ruột và các tuyến thượng thận. 5 Trong các điều kiện thông thường, stress là một đáp ứng thích nghỉ bình thường về mặt tâm lý, sinh học và hành vi, stress đặt cơ thể vào một hình hài hoà với môi trường xung quanh. [11] Trong stress bình thường, sự đáp ứng là thích hợp và giúp cho cơ thể có được những đáp ứng đúng nhằm tạo ra một cân bằng mới sau khi chịu tác động từ bên ngoài. Trong stress bệnh lý, khả năng đáp ứng của cá thê tỏ ra không đầy đủ hay không thích hợp, không thể tạo ra ngay một thế cân bằng mới.
Vì vậy, rỗi loạn chức năng ít nhiều trầm trọng, biểu hiện bằng các triệu chứng tâm thần, cơ thể cũng như hành vi, đưa đến những rỗi loạn tạm thời hay kéo dài. Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận định nghĩa tác giả Đinh Hùng Tuấn nêu ra trong điều kiện thông thường, stress là một đáp ứng thích nghi bình thường về mặt tâm lý, sinh học và hành vi, stress đặt cơ thể vào một hình hài hoà với môi trường xung quanh. [11] Trong điều kiện làm việc của điều dưỡng nói riêng và nhân viên y tế nói chung thì luôn tiếp xúc với môi trường chung quanh chịu tác động nhiều từ môi trường làm việc chung quanh. Những tác động này như tình trạng bệnh nhân, tình trạng tâm lý bệnh nhân, thái độ cảm xúc từng bệnh nhân .gây ảnh hưởng tích cực hay làm căng thằng hơn.
Các khái niệm về điều dưỡng Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự hồi phục của họ. Người điều dưỡng có 4 vai trò: Người chăm sóc, người truyền đạt thông tin, người giáo viên, người tư vấn, người biện hộ cho người bệnh. [13] Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) đánh giá địch vụ chăm sóc sức khỏe do điều dưỡng, hộ sinh cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế nên đã đưa ra nhiều nghị quyết về củng cố và tăng cường dịch vụ điều dưỡng toàn cầu phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng có trình độ được coi là chiến lược quan trọng để tăng cường sự tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ y tế, cũng như đảm bảo công bằng trong ngành y tế. [14] Điều dưỡng là một nghề chuyên nghiệp.
Y học ngày càng phát triển đòi hỏi phải nâng cao kiến thức và trình độ chuyên nghiệp của điều dưỡng. Việc đảo tạo điều dưỡng ở bậc đại học và sau đại học đã tạo ra sự thay đổi về mối quan hệ giữa người thầy thuốc và người điều dưỡng, người điều đưỡng trở thành cộng sự của người thầy thuốc, một thành viên của nhóm chăm sóc thay vì chỉ là người thực hiện y lệnh. Bác sĩ và điều đưỡng là hai nghề có định hướng khác nhau: bác sĩ làm nhiệm vụ chân đoán và điều trị. Điều 6 dưỡng chăm sóc và đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho người bệnh về thể chất và tỉnh thần.
Một số công cụ đo lường Stress 1. Một số thang đo Stress Trên thế giới hiện nay có nhiều thang đo được sử dung trong đánh giá sức khỏe tâm thần. Tùy vào đối tượng và mục đích nghiên cứu mà các tác giả sử dụng phù hợp: - Thang Đánh giá trầm cảm Hamilton (HDRS): Trong cấu trúc của thang đánh giá là những đề mục đại diện tốt nhất cho triệu chứng học của rỗi loạn trầm cảm. Theo tác giả, điểm tổng cộng phản ánh được cường độ chung của hội chống trằm cảm.
Hamilton tính điểm từ các đề mục có thể. Mỗi đề mục của thang đánh giá được cho điểm từ 0 đến 2 hoặc từ 0 đến 4. Những điểm cho từ 0 đến 4 tương đương lần lượt với các triệu chứng như sau: không có triệu 8 chứng; triệu chứng nghi ngờ hoặc không có ý nghĩa; triệu chứng nhẹ; triệu chứng vừa và triệu chứng nặng. Những điểm cho từ 0 đến 2 tương đương với những mức độ triệu chứng sau: không có triệu chứng: triệu chứng nghi ngờ hoặc không đáng kê và triệu chứng biêuu hiện rõ ràng.
Điểm tổng cộng của phiên bản 17 đề mục là từ 0 đến 52 điểm. Thang này thê hiện một phương pháp đơn giản dé đánh giá bằng định lượng mức độ nghiêm trọng của tình trạng trầm cảm, và để chứng minh những chuyển biến của rối loạn này trong quá trình điều trị. Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton không phải là một công cụ nhằm mục đích chẵn đoán. [26] - Thang tự đánh giá trầm cảm Beck: (BDI) là một chuỗi những câu hỏi được xây dựng để đánh giá cường độ, mức độ và sự nhận thức về trầm cảm ở những người bệnh có chân đoán rối loạn tâm thần.
BDI được xây dựng vào năm 1961, được chuẩn hóa vào năm 1969, và đăng ký bản quyền vào năm 1979. Nó gồm có hai phiên bản, bản 21 câu bao gồm 95 mục nhỏ được thiết kế để đánh giá các triệu chứng thường gặp ở những người mac bénh tram cảm, mỗi câu hỏi có bốn lựa chọn để trả lời mỗi lựa chọn được ấn định một điểm từ 0 đến 3, chỉ mức độ của triệu chứng; bản rút gọn gồm 13 câu được thiết kế để dành cho các nhân viên y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu mỗi câu hỏi đề cập đến một triệu chứng của rối loạn trầm cảm chủ yếu xuất hiện trong hai tuần trở lại đây. Các câu lựa chọn của BDI đánh giá tâm trạng, sự bi quan, cảm giác thất bại, không hài lòng với bản thân, mặc cảm tội lỗi, cảm giác bị trừng phạt, ghét bản thân, tự buộc tội bản thân, ý định tự sát, than khóc, dễ bị kích động, thu mình, cảm giác về hình ảnh bản thân, làm việc khó khăn, mắt ngủ, mệt mỏi, không ngon miệng, sút cân, lo lắng về cơ thể và rỗi 7 loạn giảm cảm giác tình dục. BDI có thê phân biệt giữa các loại rỗi loạn trầm cảm như trầm cảm chủ yếu và chứng loạn khí sắc.
Thang đo Beck là một công cụ đánh giá cho quan rối loạn trầm cảm được sử dung nhiều nhất trong nghiên cứu lâm sàng tâm thần học, trong thực hành đa khoa và dich té học, mang lại những dữ liệu về tình trạng tram cam. [27] [9] Thang Đánh giá trầm cam Montgomery-Asberg (MADRS): Thang MADRS có độ nhạy đặc biệt với việc đo lường thay đổi trong các triệu chứng qua thời gian điều trị (Montgomery SA, Asberg M. Thang MADRS là thang đánh giá qua quan sát dựa trên phỏng vấn lâm sàng từ các câu hỏi chung đến các câu chi tiét hon. Thang MADRS có 10 câu hỏi, mỗi câu có 6 mức độ đánh giá các triệu chứng cốt yếu của trầm cảm như buồn chán, rối loạn giấc ngủ, những thay đôi về sự ngon miệng và tập trung chú ý, ý tưởng tự sát và bi quan.
Thang này không đánh giá các triệu chứng cơ thể vốn rất quan trọng trong nhóm bệnh nhân tuổi già. Mặc dù thang MADRS có độ ứng nghiệm tốt so với các thang đánh giá khác ở các nhóm quần thể tuôi trẻ hơn, nhưng nó không có đo độ ứng nghiệm đối với nhóm quần thể người già. [28] Thang đánh giá lo âu của Zung (SAS): SAS là trắc nghiệm đánh giá mức độ lo âu do cả người tiễn hành trắc nghiệm và người được trắc nghiệm thực hiện. Bệnh nhân phải đọc thông viết thạo, được giải thích rõ ràng cách thực hiện trắc nghiệm ngồi trong phòng thoáng mát yên tĩnh.
Bệnh nhân đọc kỹ từng đề mục (20 đề mục) đối chiếu với trạng thái của bản thân trong vòng 1 tuần trở lại đây và đánh số phù hợp nhất vào cột bên phải; 1- không có; 2- đôi khi; 3- có trong phần lớn thời gian; 4- có trong hầu hết hoặc tất cả thời gian. Tổng điểm số đi từ 20 đến 80, thường được tính ra điểm tương ứng từ 25% đến 100%. Từ 40 điểm trở lên là có rối loạn lo âu. [7] Thang đo DASS21 của Lovibond S.H Thang đo DASS 21 được giới thiệu năm 1997 là phiên bản rút gọn của thang đo DASS 42.
Thang đo DASS 42 được Lovibond S.F thiết kế năm 1995, là bộ công cụ tự điền gồm có 21 mục nhằm do lường 3 trạng thái cảm xúc tiêu cực của con người: lo âu, trầm cảm, stress. Thang đo DASS2I đã được Trung tâm Nghiên cứu và Dao tạo Phát triển cộng đồng RTCCD thực hiện chuẩn hóa năm (2013). Kết quả cho thấy, DASS 21 có thể áp dụng tốt ở Việt Nam vì trong quá trình sử dụng thang đo, thông tin được phỏng vấn trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu, thang đo đảm bảo tính khách quan, chuẩn hóa, dễ hiểu, sử dụng 8 nhanh.