Chương I: TÔNG QUAN TÀI LIỆU. Tình hình nghiên cứu bệnh GTQĐ trên thế giới và Việt Nam. Đặc điểm sinh học, bệnh học cùa giun đũa, giun tóc, giun móc/mô. Chẩn đoán và điều trị bệnh GTQĐ.
Phòng chổng bệnh GTQĐ. 23 Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tượng nghiên cứu:. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:.
Thiết kế nghiên cửu:. Mầu và phương pháp chọn mlu nghiên cứu:. Phương pháp thu thập số liệu. Xứ lý và phân tích sổ liệu.
Các biển số, chì số nghiên cứu và cách đánh giá dùng trong đề tài:. Đạo dức nghiên cứu.33 Chương 3: KÉT QUẢ NGHIÊN cứu. Một số thông tin chung:. Thực trạng nhiễm GTQĐ của PNTSS.
Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh GTQĐ của PNTSS. Thực trạng tiếp cận thông tin phòng chống GTQD, hố xi và nguồn nước sinh hoạt của gia đình PNTSS. Mối liên quan của một số yếu tố đối với tỷ lệ và cường độ nhiễm GTQĐ. 50 Chương 4: BÀN LUẬN.
ì, Thực trạng nhiễm GTQĐ của PNTSS ờ xã Tiền Yên. Kiến thức phòng chổng bệnh GTQĐ của PNTSS. Thực hành phòng chống bệnh GTQĐ. Môi liên quan cùa một số yếu tố đến tình trạng nhiễm GTQĐ.
Hạn chê của nghiên cửu. 66 Chương 5: KẾT LUẬN. Thực trạng nhiễm giun truyền qua đẩt ờ phụ nữ tuổi sinh sàn. Kiến thức và thực hành phòng chống bệnh giun truyền qua đất.
Các yểu to hên quan đen thực trạng nhiễm giun truyền qua đất.68 Chương 6: KHUYÊN NGHỊ. 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO.76 5 DANH MỰC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Phân loậi cường độ nhiễm GTQĐ theo EĨÊU chuẩncủa WHO.32 Bàng 3,1: Bàng tình trạng hôn nhân và 50 con của PNTSS.2: Nghề nghiệp chính cùa PNTSS Lại điềm nghiên cứu.3: Cường độ nhiễm G TQD ờ phụ nữ tuổi sinh sàn.4: Trung bình số học của cường dộ nhiễm lừng loại GTQĐ.5: Tỳ lệ PNTSS kể tên dược các loại lác hại cùa bệnh GTQĐ.6; Tý lệ hiểu biết về biện pháp phòng chổng bệnh GTQĐ .7 : Tý lệ PNTSS hiểu biết về điều trị bệnh GTQĐ.8: Kiến thức phông chống bệnh GTQD.9: Tỷ lệ sử dụng hổ xí của PNTSS tại điểm nghiên cứu.10: Tinh hình sứ dụng phàn người đê bón cây trổng.1 I; Tần suắt thực hiện một sổ hành vi phòng chống GTQĐ.12; Thực hành phòng chống bệnh GTQĐ cùa PNTSS.13: Tiếp cận thông tin phòng chống bệnh giun truyền qua đất.14; Thực trạng ho xí và nguồn cung cấp nước sinh hoạt của gia đình.15: Một số yếu lổ liền quan đến tỷ lệ nhiễm GTQĐ ớ PN rss.16: Một số yếu tổ liên quan đến cường độ nhiễm giun móc/mò ở PNTSS. 54 vii TÓM TẮT NGHIÊN cứu Bệnh giun truyền qua đất gèm giun đũa (Ascaris ỉumbricGÌdes), giun tóc (Tricỉturis trichitưa) và giun móc,'giun mò {Ancylostoma duodenale/Necừíor americanus) đã và dang gãy nhiều tác hại cho trỏ em và phụ nữ tuổi sinh sản, phụ nữ cỏ thai. Nghiên cứu đã tiến hành xét nghiệm phân bằng phương pháp Kato-Katz và phỏng vẩn 316 phụ nữ từ 15-49 tuồi được chọn ngẫu nhiên tại xã Tiền Yên (Hoài Đức - tinh Hà Tây) năm 2006 nhầm đánh giá thực trạng nhiễm và xác định các yểu (ố liên quan đến thực trạng nhíẻm giun truyền qua đất cua phụ nữ tuồi sinh sán tại đây.
Ket quả cho thấy: Tý lệ nhiễm giun truyền qua đất là 65,2%. Tỳ lệ nhiễm giun móc/mỏ 53,5%, giun tóc 27,2%, và giun đũa là 3,8%. Tỷ lệ dơn nhiễm chiếm 72,3% cãc trường hợp nhiễm giun truyền qua đất. Tý lệ nhiễm hai loại giun truyền qua đẩt là 16,8%, nhiễm ba loại là 1,3%.
Tầt ca các trường hợp nhiềm giun đũa và hàu hết các trường hợp nhiễm giun lóc đều ờ mức độ nhẹ. sẻ trứng trung binh/gam phân lương ứng là 8,3 và 59,8 trứng. Tý lệ nhiễm giun móc/mó nhẹ là 44,3%, trung bỉnh là 7,3% và nặng là 1,9%. sổ trứng giun móc/mò trung bình/gam phân lả 453,8 trứng.
Đánh giá kiến thức và thực hành phòng chống bệnh giun truyền qua đất thòng qua báng điểm thấy rằng tý lệ phụ nữ tuổi sinh sản có kiến thức về bệnh giun truyền qua đất ớ mức độ đạt là 46,5% và cỏ thực hành phòng chống dạt là 22,2%. Một sổ yểu tổ như mức thu nhập thấp; trồng lúa/rau máu; thời gian làm việc trung bình ngoải đồng/vườn cao; kiến thức, thực hành phòng chồng bệnh giun truyền qua đất không đạt; không sừ dụng hổ xí: không đi giầy/dép khi lảm việc ngoài đồng/vườn; nguồn nước sinh hoạt không vệ sinh, chưa từng tiếp cận với các thông tin phòng chống bệnh giun truyền qua đất; không rứa Lay sau khi đại tiện; không uèng thuốc tẩy giun định kỳ đểu làm tăng kha năng bị nhiễm bệnh giun truyền qua đất cùa phụ nử tuối sinh sàn tại điểm nghiên cứu tương ứng lả 3,2; 4,1; 2,3; 5,9; 2,4; 3,5; 3,3 và 3,3 làn 50 vớì nhóm còn lại có ý nghĩa thống kê. Một số yếu tố như tuồi đời cao; thời gian iàm việc trung binh ngoài đống/vườn nhiều; không đì giầy/dẻp khi làm việc ngoài đồng/Vườn; chưa từng tiểp cận với các thông tin phòng chống bệnh giun truyền qua đẩt làm tăng khà năng bị nhiễm giun móc cường độ trung bình hoặc nặng hơn so với nhóm còn lại tương ứng là 3,7; 3,3; 5,6; 3,7 lần cỏ nghĩa thảng kệ. Khuyên nghị cơ băn cùa nghiên cứu đó là; cẩn ưu tiên công tác giáo dục truyền thông phòng chống bệnh giun truyền qua đất cho cộng đồng, vận dộng nhân dân từ bõ thói quen không sữ dụng hố xí, xây dựng hố xí và các thói quen thực hành phòng chống bệnh giun truyền qua đất nhằm từng bước giảm tý lệ nhiễm, cường độ nhiễm giun truyền qua đất nâng cao sức khoé cho nhàn dân trong xã nói chung và phụ nữ tuổi sinh sán nói riêng.
2 thuận lợi để jan truyền rộng rãi trong cộng đồng. Theo số liệu diêu tra cùa Viện sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, tỷ lệ nhiễm GTQĐ trong cộng đòng ừ nước ta còn rất cao, và tỳ lê nhiễm khác nhau tuỳ theo tập quán sình hoạt, canh tác và tính chẩl thổ nhưỡng cùa từng vùng. Ờ miền Bác, tỷ lệ nhiễm GTQĐ cao, nhát là vùng đồng bằng, tỳ lệ nhiễm giun đũa lừ 50 - 95%; giun lóc từ 30 - 95%; giun mỏc/mỏ từ 30 - 67%; Ò mien Trung, tỷ lệ nhiễm giun đũa từ 10 - 82%; giun tóc từ 15 - 80%; giun móc/niò lừ 47 - 69%; ớ mien Nam: tỳ lệ nhiễm gỉun dũa Lừ 45 - 60%; giun tóc từ 0,5 - 1,4%; giun móc/mó từ 52 - 61% [11], [18], [27]. Huyện Hoài Đửc có dài phù sa sủng Đây kéo dài từ phía Bac xuống phía Nam cùa huyện.
Khoảng 80% dàn số cũa huyện làm nghề nông nghiệp. Xã Tiền Yên là một xã thuần nông năm phía Tày của huyên Hoài Đúc với diện tích 284,4 ha, dân số 5760 người trong đó số phụ nữ tuồi sinh sản là 1489 người. Nghề nghiệp chú yếu cùa nhân dân lả trồng lúa và rau máu. Diện tích chuyên canh rau màu chiếm khoáng 60% diện lích trồng trọt của xã.
Tại đây, phụ nữ thường lả người lao dộng chính trong lao dộng nông nghiệp, họ Ihưởng xuyên phái đàm trách phần lờn các cóng việc lú gieo trồng, chăm sóc đến thu hoạch vả người dân còn duy trì một số thói quen smh hoạt, canh lác không hợp vệ sinh. Do đó, nguy cơ tiếp xúc với mẩm bệnh và bị nhì cm bệnh giun truyền qua dẩt của phụ nữ ià rẩL lớn, ảnh hưởng đen sức khóe nhất là đối vớì phụ nữ trong dộ tuổi sinh sàn. Mặc dù vậy, trong những năm qua, tại dây chưa cô dièu tra hoậc nghiên cứu nào về lình trạng nhiễm các bệnh giun sán nói chung và GTQĐ ở phụ nữ tuồi sính sản nói ríèng. Vi vậy, việc ưien khai nghiên cửu xác đỉnh thực trạng nhiễm bệnh GTQĐ ở PNTSS, kiên thức, thực hành phòng chóng bệnh và xác định một số yểu Lổ liên quan tói thực trạng dó tại địa phương là rất cần thiết, góp phần lãm cơ sờ dể triển khai các hoạt dộng phù hợp phòng chong bệnh ký sình Irùng tại địa phương.
Do dó, chúng Lỏi tiến hành nghiên cứu đề tài "Thực trạng nhiễm giun truyền qua đát vâ kiến thức, thực hành phồng chồng giun cùa phụ nữ tuổi sinh sắn tại xã Tiền Yên, huyện tíứài Đức, tỉnh Hà Tây năm 2006 ”, 1 ĐẶT VÁN ĐỀ Bệnh giun truyền qua đất (GTQĐ) gây ra bới một số loài giun ký sinh trong cơ thể và trong chu kỳ phát triển cùa chúng có giai đoạn phát triền ở ngoài môi trường đầt, dó là giun dũa (Ascaris ỉutnbricoides), giun tóc (Trìchuris trichỉura) vả giun móc/giun mỏ (Ancylosíonia duodenale/Necator americanus) [24]. Bệnh dã và dang gây ra những hậu quả nghiêm trọng đổi với sức khoè con người. Bệnh đã trở thành vấn dề y tể công cộng ở nhiều nơi trên thể giới nhất là những vùng có khí hậu nhiệt đới vả cận nhiệt đới [21], Bệnh gặp ờ mọi lứa tuổi và gây ành hưởng rất lớn tới sự phát triển thể chất, tinh thần, đặc biệt là đối với trẻ em, phụ nữ trong dộ tuổi sinh sàn (PNTSS) và phụ nữ có thai [1], [2], [3], Đổi vởi trè em, nhiều nghiên cứu dã chứng minh ràng có sự liên quan mật thiết giữa tinh trạng nhiễm bệnh giun sán với suy dinh dưỡng, giảm khà náng phát triền thể chát, trí tuệ và học tập của trc cm. Đối với PNTSS, phụ nữ cỏ thài: nhiễm giun móc/mỏ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khóe.
Những trường hợp bị nhiễm giun móc/mô nặng sẽ gây mất máu man tính và dần đến tình trạng thiếu máu thiểu sat làm tăng khả nâng bị tai biển sàn khoa, sảy thai, dẻ non, trè đè thiêu cân. [5], [37], [42], [44], Tổ chức y lể the giới (WHO) ưởc tính trên thế giới cố hơn 2 tỳ người bị nhiễm các bệnh GTQĐ, trong đó khoảng 1,3 tỷ người nhiễm giun móc, 1,45 tỷ người nhiễm giun đũa và 1,05 tỷ người nhiễm giun tóc. Hảng năm có khoáng 150.000 người chết do bệnh GTQĐ gián tiểp hoặc trực tiếp gây nên [25], [42], [44]. Theo ước tính cùa Ngân hàng the giới, DALYs cùa linh trạng nhiễm giun đường ruột trên thế giới là 39,0 năm-sổng (giun móc 22,1; giun dũa 10,5 vả giun tóc 6,4), trong khi dối với sốt rét lả 35,7 vả lao là 46,5 năm-sống [32], [2.
Việt Nam là một nước nằm trong vùng có điều kiện nhiệt độ và ẩm độ thích hựp cho sự phát triển cùa các bệnh giun sán. Mặt khác, diều kiện vệ sinh môi trường thấp kém, tập quán canh tác, thói quen sinh hoạt và ăn uống không hợp vệ sinh đặc biệt lả ờ những vùng nông thổn đà góp phần cho các bệnh giun sán có điều kiện 3 MỤC TĨÊU NGHIÊN cứu 1.