CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.Tổng quan về kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán báo cáo tài chính 1.Khái niệm TSCĐ. * TSCĐ hữu hình: Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 03 là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận. Cụ thể các tài sản được ghi nhận làm Tài sản cố định hữư hình phải thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn sau: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. - Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy.
- Thời gian sử dụng trên một năm. - Có đủ tiêu chuẩn theo quy định hiện hành. Theo điều 3 quyết định 206/2003/QĐ-BTC ban hành ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính quy định tiêu chuẩn của Tài sản cố định hữu hình phải có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên (bắt đầu áp dụng cho năm tài chính 2004) *Tài sản cố định vô hình, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04, là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh,cung cấp dịch vụ hoặc cho đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận Tài sản cố định vô hình. *Tài sản cố định thuê tài chính, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 06 “Thuê tài sản” là sự thoả thuận giữa hai bên cho thuê và bên thuê về việc bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên thuê trong một khoản thời gian nhất định để được nhận tiền cho thuê một lần hay nhiều lần.
Thuê tài chính là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liềnvới quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể được chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. SVTH: Nguyễn Văn Thiện 3 Lớp: Kiểm toán 49A Đề án môn học GVHD: THS. Phan Thị Thanh Diệp Thuê hoạt động là thuê tài sản không phải là thuê tài chính.
Theo thông tư số 105/2003/TT-BTC (Bắt đầu áp dụng cho năm tài chính 2004), thuê tài chính là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. *Khấu hao Tài sản cố định: là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của Tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian sử dụng của Tài sản cố định.Đặc điểm của TSCĐ Tài sản cố định là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh. Khoản mục Tài sản cố định là một khoản mục chiếm tỷ trọng đáng kể trên bảng cân đối kế toán.
Tài sản cố định là cơ sở vật chất của đơn vị. Nó phản ánh năng lực sản xuất hiện có và trình độ ứng dụng khoa học kĩ thuật vào hoạt động của đơn vị. Tài sản cố định là những tài sản sử dụng cho mục đích sản suất kinh doanh chứ không phải để bán và trong quá trình sử dụng Tài sản cố định bị hao mòn dần. Giá trị của chúng được chuyển dần vào chi phí hoạt động và sẽ được thu hồi sau khi bán hàng hoá, dịch vụ (đối với hoạt động kinh doanh).
Công tác quản lý TSCĐ Tài sản cố định là cở sở vật chất chủ yếu giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu về hoạt động sản xuất và tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp là phải tăng cường công tác quản lý TSCĐ nhằm đạt hiệu quả cao. Hơn nữa, trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu nhưng giá trị của nó giảm dần sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh nên trong công tác quản lý TSCĐ, các doanh nghiệp cần theo dõi cả về mặt hiện vật và mặt giá trị của TSCĐ. *Quản lý về mặt hiện vật: bao gồm cả quản lý về số lượng và chất lượng của TSCĐ SVTH: Nguyễn Văn Thiện 4 Lớp: Kiểm toán 49A Đề án môn học GVHD: THS.
Phan Thị Thanh Diệp - Về mặt số lượng: bộ phận quản lý TSCĐ phải bảo đảm cung cấp đầy đủ về công suất, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Về mặt chất lượng: công tác bảo quản phải đảm bảo tránh hỏng hóc, mất mát các bộ phận chi tiết làm giảm giá trị TSCĐ. *Quản lý về mặt giá trị: là xác định đúng nguyên giá và giá trị còn lại của TSCĐ đầu tư, mua sắm, điều chuyển và giá trị hao mòn Quản lý TSCĐ về mặt giá trị là công việc chủ yếu trong công tác hạch toán kế toán. Công việc này đảm bảo cho ban quản lý có thể biết chính xác, kịp thời và đầy đủ những thông tin về mặt giá trị (Nguyên giá, Giá trị hao mòn và Giá trị còn lại) của từng loại TSCĐ trong doanh nghiệp tại từng thời điểm xác định.
Tổ chức công tác kế toán TSCĐ 1. Hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán Về chứng từ: Các chứng từ được sử dụng trong hạch toán Tài sản cố định bao gồm: - Hợp đồng mua Tài sản cố định. - Hoá đơn bán hàng, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho của người bán. - Biên bản bàn giao Tài sản cố định.
- Biên bản thanh lý Tài sản cố định. - Biên bản nghiệm thu khối lượng sửa chữa lớn hoàn thành. - Biên bản đánh giá lại Tài sản cố định. - Biên bản kiểm kê Tài sản cố định.
- Biên bản quyết toán, thanh lý hợp đồng mua tài sản. - Bảng tính và phân bổ khấu hao Tài sản cố định. Về sổ sách: Để theo dõi kịp thời và đầy đủ các thông tin về Tài sản cố định, các doanh nghiệp thường sử dụng hệ thống chứng từ sổ sách như: - Thẻ Tài sản cố định. - Sổ chi tiết Tài sản cố địnhtheo tong bộ phận sử dụng và theo loại Tài sản cố định theo dõi.
- Sổ cái các tài khoản 211, 212, 213, 214. SVTH: Nguyễn Văn Thiện 5 Lớp: Kiểm toán 49A Đề án môn học GVHD: THS. Phan Thị Thanh Diệp 1. Hệ thống tài khoản kế toán Theo chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, trong hạch toán Tài sản cố định, TSCĐ được phân thành những nhóm khác nhau và sử dụng những tài khoản và tiểu khoản khác nhau.
TK 211: “Tài sản cố định hữu hình” 2112: Nhà cửa,vật kiến trúc. 2114: Phương tiện vận tải, truyền thống. 2115: Thiết bị, dụng cụ quản lý. 2116: Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm.
TK212: “Tài sản cố định thuê tài chính” TK 213: Tài sản cố định vô hình” 2131: Quyền sử dụng đất. 2132: Quyền phát hành. 2133: Bản quyền, bằng phát minh sáng chế. 2134: Nhãn hiệu hàng hoá.
2135: Phần mềm máy vi tính. 2136: Giấy phép và giấy nhượng quyền. 2138: TSCĐ vô hình khác. TK214: khấu hao Tài sản cố định 2141: Khấu hao Tài sản cố định hữu hình.
2142: Khấu hao Tài sản cố định vô hình. 2143: Khấu hao Tài sản cố định thuê tài chính. TK009: Nguồn vốn khấu hao cơ bản. Hạch toán Tài sản cố định và khấu hao Tài sản cố định Khi hạch toán Tài sản cố định, kế toán căn cứ vào hệ thống tài khoản tương ứng và tình hình biến động tăng giảm của Tài sản cố định.
Phân loại Tài sản cố định Căn cứ vào những tiêu thức nhất định, người ta chia Tài sản cố định ra thành nhiều nhóm để quản lýTài sản cố định cho có hiệu quả. SVTH: Nguyễn Văn Thiện 6 Lớp: Kiểm toán 49A Đề án môn học GVHD: THS. Phan Thị Thanh Diệp Theo công dụng kinh tế, Tài sản cố định bao gồm những loại sau: - TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh. - TSCĐ hành chính sự nghiệp.
- TSCĐ phúc lợi. - TSCĐ chờ xử lý. Theo nguồn hình thành, Tài sản cố định bao gồm: - TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn Nhà nước cấp; - TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn vay; - TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung; - TSCĐ nhận liên doanh, liên kết với đơn vị khác. Theo tính chất sở hữu, TSCĐ được chia thành 2 loại: - TSCĐ thuộc quyền sở hữu của đơn vị.
- TSCĐ thuê ngoài. Bên cạnh đó cách phân loại được sử dụng phổ biến hiện nay trong công tác hạch toán và quản lý Tài sản cố định ở các đoanh nghiệp là cách phân loại theo tính chất và đặc trưng kỹ thuật của tài sản. theo cách phân loại này, Tài sản cố định được chia thành 3 loại: - Tài sản cố định hữu hình. - Tài sản cố định vô hình.
- Tài sản cố định thuê tài chính. Vị trí của khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC 1. Mục tiêu Kiểm toán đối với khoản mục Tài sản cố định Tài sản cố định luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của đơn vị Trong mọi trường hợp, khoản mục TSCĐ phản ánh tình trạng trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Điều này khiến cho khoản mục TSCĐ trở thành một khoản mục quan trọng khi tiến hành Kiểm toán Báo cáo tài chính.
Mặt khác, do chi phí hình thành TSCĐ rất lớn và khả năng quay vòng vốn chậm nên việc Kiểm toán khoản mục TSCĐ sẽ giúp cho Kiểm toán viên SVTH: Nguyễn Văn Thiện 7 Lớp: Kiểm toán 49A Đề án môn học GVHD: THS. Phan Thị Thanh Diệp đánh giá được tính kinh tế và tính hiệu quả của việc đầu tư cho TSCĐ từ đó đưa ra được định hướng đầu tư và nguồn sử dụng để đầu tư vào TSCĐ một cách hiệu quả nhất. Đồng thời Kiểm toán khoản mục TSCĐ sẽ góp phần phát hiện ra các sai sót trong việc xác định chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ, chi phí sửa chữa, chi phí khấu hao tài sản. Những sai sót trong việc tính chi phí này thường dẫn đến những sai sót trọng yếu trên Báo cáo tài chính.
Chẳng hạn như việc trích khấu hao TSCĐ vào chi phí thường bị trích cao hơn (hoặc thấp hơn) thực tế, từ đó ảnh hưởng đến chỉ tiêu chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. Các khoản đầu tư cho TSCĐ vô hình như quyền sử dụng đất, giá trị bằng phát minh sáng chế, chi phí nghiên cứu khoa học thường có nhiều sai sót cũng như gian lận và rất khó tập hợp chi phí cũng như đánh giá chính xác giá trị.