CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN QUỐC TẾ PNT THỰC HIỆN. Đặc điểm khoản mục tài sản cố định ảnh hưởng đến kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán Quốc tế PNT thực hiện 1. Khái niệm tài sản cố định Tài sản cố định là cơ sở vật chất của một doanh nghiệp phản ánh năng lực sản xuất và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động của doanh nghiệp. Tài sản cố định là một trong các yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp thông qua việc tăng năng suất lao động và từ giúp giảm chi phí sản xuất và giảm giá thành sản phẩm.
Chính vì vai trò quan trọng của TSCĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh cho nên việc hiểu biết về tài sản cố định, đặc điểm và vai trò của nó trong hoạt động của đơn vị là rất cần thiết để đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Theo hướng dẫn của chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) tuy không định nghĩa chung về tài sản cố định nhưng có định nghĩa cụ thể về các thành phần của tài sản cố định gồm: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, tài sản thuê theo hình thức thuê tài chính. Cụ thể: - TSCĐ hữu hình: Theo VAS 03 – TSCĐ hữu hình: “ TSCĐ hữu hình là những tư liệu lao động có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định), có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. TSCĐ hữu hình thường được phân thành các chi tiết như: Nhà xưởng, vật kiến trúc – Máy móc thiết bị - Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn - Thiết bị, dụng cụ quản lý – Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm…” SV: Lê Khánh Tùng Trang 3 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Kiểm toán - TSCĐ vô hình: Theo VAS 04 – TSCĐ vô hình: “TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
TSCĐ vô hình bao gồm các loại như: Quyền sử dụng đất có thời hạn – Nhãn hiệu hàng hóa - Quyền phát hành - Phần mềm máy vi tính - Giấy phép và giấy phép chuyển nhượng - Bản quyền, bằng sáng chế - Công thức và cách thức pha chế, kiểu mẫu, thiết kế và mẫu vật – Tài sản vô hình đang trong giai đoạn triển khai…” - TSCĐ thuê tài chính: Theo VAS 06 – thuê tài sản: “TSCĐ thuê tài sản là TSCĐ đã được bên cho thuê chuyển giao phần lớn lợi ích và rủi ro gắn với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê; quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. Như vậy, dù chưa thuộc quyền sở hữu của bên thuê, nhưng do đặc điểm trên, tài sản thuê tài chính vẫn được ghi nhận là tài sản của bên thuê”. Ngoài ra, khi nhắc đến TSCĐ thì một số khái niệm đi cùng thường được nhắc đến gồm: nguyên giá, khấu hao lũy kế, giá trị còn lại, giá trị thanh lý, giá trị hợp lý, giá trị có thể thu hồi,…Cụ thể: Theo VAS 03, VAS 04: “Trong báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải trình bày theo từng loại TSCĐ hữu hình về các thông tin: phương pháp xác định nguyên giá; Phương pháp khấu hao, thời gian sử dụng hữu ích; Nguyên giá, khấu hao lũy kế, và giá trị còn lại vào đầu năm và cuối kỳ; bản thuyết minh báo cáo tài chính” - Nguyên giá: Theo điểm 5, điều 2, thông tư 45/2013/TT-BTC: “Nguyên giá tài sản cố định hữu hình là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được tài sản cố định hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng” - Hao mòn TSCĐ: Theo điểm 7, điều 2, thông tư 45/2013/TT-BTC: “Hao mòn tài sản cố định là sự giảm dần giá trị sử dụng và gía trị của tài sản cố định do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ kỹ thuật, SV: Lê Khánh Tùng Trang 4 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Kiểm toán ….trong quá trình hoạt động của tài sản cố định”. - Khấu hao TSCĐ: “Khấu hao là việc định giá, tính toán, phân bổ một cách có hệ thống giá trị của tài sản do sự hao mòn tài sản sau một khoảng thời gian sử dụng.
Khấu hao tài sản cố định được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng tài sản cố định. Khấu hao tài sản cố định liên quan đến việc hao mòn tài sản, đó là sự giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng do tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, do hao mòn tự nhiên hoặc do tiến bộ khoa học công nghệ.” - Giá trị thanh lý tài sản cố định được xác định: là giá trị thu hồi được từ việc thanh lý TSCĐ trừ đi (-) các chi phí liên quan đến việc thanh lý TSCĐ đó. - Giá trị còn lại của tài sản cố định: là giá trị còn lại của tài sản cố định sau khi trừ đi (-) số khấu hao lũy kế của tài sản đó. - Giá trị có thể thu hồi: là một khoản giá trị mang tính chất ước tính có thể thu hồi trong tương lai bao gồm khoản thu hồi từ việc sử dụng tài sản cố định phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh cộng với (+) giá trị thanh lý của TSCĐ.
Đặc điểm và vai trò của TSCĐ a. Đặc điểm của tài sản cố định TSCĐ là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong quá trình sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp có thể tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau về hình thái, công dụng,…nó có thể là máy móc kỹ thuật, là cơ sở vật chất, nhà xưởng,… nhưng tựu chung tất cả đều góp phần tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất từ đó hạ giá thành sản phẩm. Dù tồn tại ở nhiều trạng thái, công dụng, mục đích khác nhau nhưng TSCĐ vẫn có những đặc điểm chung nhất định gồm: - Tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong nhiều kỳ Ví dụ: như thời gian sử dụng của các công trình xây dựng, nhà cửa thường kéo dài hàng chục năm vì vậy theo nguyên tắc kế toán giá trị hao mòn tài sản cố định của các công SV: Lê Khánh Tùng Trang 5 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Kiểm toán trình này sẽ được phân bổ và tính vào chi phí của các kỳ kế toán trong thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ.
- Giữ nguyên hình dạng vật chất từ khi tham gia vào sản xuất đến khi TSCĐ bị hư hỏng phải loại bỏ. Khác với các tài sản khác như (nguyên vật liệu,…) bị biến đổi lớn để tạo ra sản phẩm cuối cùng thì TSCĐ lại hầu như không thay đổi về mặt vật chất qua quá trình sản xuất trong một thời gian dài. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng TSCĐ cũng có những hao mòn nhất định (hữu hình và vô hình). Trong đó hao mòn hữu hình của tài sản cố định là sự hao mòn về vật chất, về giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng.
Hao mòn vô hình là sự giảm sút về giá trị trao đổi của tài sản cố định do ảnh hưởng của thay đổi khoa học công nghệ. - Giá trị của TSCĐ giảm dần vào được chuyển dần vào giá trị của thành phẩm dưới hình thức khấu hao. Vai trò của tài sản cố định Trong các DN, TSCĐ đều chiếm một tỷ trọng nhất định trong cơ cấu tổng tài sản. Tùy thuộc vào lĩnh vực kinh doanh khác nhau mà TSCĐ có vai trò khác nhau trong DN.
Dù có được sử dụng cho mục đích nào ở các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì tài sản cố định cũng có một số vai trò sau: Thứ nhất, quy mô – cơ sở hạ tầng của một doanh nghiệp được phản ánh một phần qua tài sản cố định doanh nghiệp đó nắm giữ, đồng thời phản ánh mức độ tương xứng giữa đặc điểm loại hình kinh doanh của doanh nghiệp với cơ cấu TSCĐ của doanh nghiệp. Thứ hai, TSCĐ đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy sản xuất nhờ hàm lượng khoa học kỹ thuật được áp dụng, thông qua việc sử dụng tài sản cố định thì năng suất lao động sẽ được cải thiện và từ đó tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất. Chính vì vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất, là một bộ phận thiết yếu của tư liệu sản xuất SV: Lê Khánh Tùng Trang 6 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Kiểm toán cho nên việc sử dụng hiệu quả đồng thời cải tiến, hoàn thiện và nâng cấp mới TSCĐ là một yếu tố quan trọng đối với hoạt động của các doanh nghiệp nói chung đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, khách sạn,… Thứ ba, TSCĐ được sử dụng như một công cụ huy động vốn hữu hiệu • Đối với việc huy động vốn trực tiếp từ ngân hàng thì TSCĐ có thể được xác định như là một tài sản có giá trị được ngân hàng xem xét cho việc thế chấp món tiền vay. • Đối với hoạt động huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu và cổ phiếu (đặc biệt là các công ty cổ phần) thì khi phát hành trái phiếu hay cổ phiểu độ tin cậy của nhà đầu tư bị ảnh hưởng lớn bởi số lượng cũng như hàm lượng công nghệ của TSCĐ mà công ty nắm giữ.
Tổ chức kế toán đối với TSCĐ Việc quản lý TSCĐ ở các doanh nghiệp thường quản lý đơn chiếc theo từng tài sản cố định. Để thuận lợi cho công tác quản lý TSCĐ, kế toán phải mở sổ theo dõi cho từng TSCĐ, mỗi TSCĐ phải có số hiệu riêng biệt. Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng công ty mà cách đánh số tài sản cố định có thể khác nhau nhưng việc đánh số phải đảm bảo: không trùng lặp số hiệu giữa các TSCĐ khác nhau, thuận lợi cho kế toán trong việc phân loại tài sản cố định theo các nhóm khác nhau.