Luận văn thạc sĩ thực trạng khai thác và sử dụng cây gù hương cinnamomum balansae h lecomte tại huyện phú lương đại từ và huyện định hóa tỉnh thái nguyên

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng khai thác và sử dụng cây gù hương Cinnamomum balansae tại huyện Phú Lương, Đại Từ và Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

85
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

1. Phần 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu của đề tài

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.2.1. Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học

1.2.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

2. Phần 2: TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.3. Điều kiện cơ sở của địa phương

2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.3.1.1. Vị trí địa lý
2.3.1.2. Điều kiện khí hậu, thủy văn

2.3.2. Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội

3. Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu

3.3.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

4. Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Hiện trạng của cây Gù hương trên địa bàn nghiên cứu

4.2. Tình hình phân bố của cây Gù hương trên địa bàn nghiên cứu

4.3. Thực trạng chất lượng cây Gù hương có trong khu vực nghiên cứu

4.4. Trữ lượng của cây Gù hương trên địa bàn nghiên cứu

4.5. Sử dụng cây Gù hương

4.6. Các giải pháp để phát triển bền vững cây Gù hương

4.7. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong công tác bảo tồn loài Gù hương tại huyện Phú Lương, Đại Từ và Định Hóa - Thái Nguyên

4.8. Đề xuất các biện pháp

5. Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cây gù hương và tầm quan trọng

Cây gù hương (Cinnamomum balansae) là một loài cây gỗ quý thuộc họ Long não, có giá trị kinh tế và bảo tồn cao. Loài này được sử dụng trong chế biến đồ mỹ nghệ, vật liệu xây dựng và đồ trang trí nội thất. Thực trạng khai thác và sử dụng cây gù hương tại các huyện Phú Lương, Đại Từ, và Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đang là vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu và bảo tồn. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định thực trạng phân bố, khai thác, và sử dụng loài cây này, đồng thời đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững.

1.1. Đặc điểm sinh học và phân bố

Cây gù hương là loài cây gỗ lớn, thường xanh, có thể cao tới 50m và đường kính thân từ 0,7 đến 1,2m. Loài này phân bố rải rác ở các khu vực đồi núi thấp phía Bắc Việt Nam, đặc biệt tại các huyện Phú Lương, Đại Từ, và Định Hóa. Tuy nhiên, do khai thác quá mức, số lượng cây gù hương trong tự nhiên đã suy giảm nghiêm trọng, chỉ còn lại ở một số khu vực rừng thứ sinh và vườn hộ gia đình.

1.2. Giá trị kinh tế và bảo tồn

Cây gù hương có giá trị kinh tế cao nhờ chất lượng gỗ tốt, không bị mối mọt và có mùi thơm đặc trưng. Gỗ của loài này được sử dụng để sản xuất đồ mỹ nghệ, đồ nội thất và vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, do khai thác bất hợp pháptái sinh kém, loài này đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam và Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 2) theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP.

II. Thực trạng khai thác cây gù hương

Thực trạng khai thác cây gù hương tại các huyện Phú Lương, Đại Từ, và Định Hóa cho thấy tình trạng khai thác trái phép và quá mức đang diễn ra nghiêm trọng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, nhiều cây gù hương có kích thước lớn đã bị chặt hạ, chỉ còn lại những cây non hoặc bị cong queo. Nguyên nhân chính là do nạn chặt phá rừng trái phépđốt rừng làm nương rẫy của người dân địa phương.

2.1. Phương thức khai thác

Khai thác cây gù hương chủ yếu được thực hiện bởi các nhóm lâm tặc, sử dụng các phương tiện cơ giới để chặt hạ và vận chuyển gỗ. Ngoài ra, người dân địa phương cũng tham gia vào việc khai thác để phục vụ nhu cầu xây dựng nhà cửa và chuồng trại. Việc khai thác không được kiểm soát chặt chẽ dẫn đến suy giảm nghiêm trọng số lượng cây gù hương trong tự nhiên.

2.2. Tác động đến môi trường

Khai thác cây gù hương không chỉ làm suy giảm nguồn tài nguyên rừng mà còn ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Việc chặt phá rừng làm mất đi nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật, đồng thời gây ra hiện tượng xói mòn đất và suy thoái đất. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc quản lý tài nguyên rừng hiệu quả hơn.

III. Sử dụng cây gù hương và giải pháp bảo tồn

Sử dụng cây gù hương trong đời sống hàng ngày của người dân địa phương chủ yếu tập trung vào việc làm đồ mỹ nghệ, vật liệu xây dựng và đồ trang trí. Tuy nhiên, việc sử dụng không bền vững đã dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên. Để bảo tồn và phát triển loài cây này, cần áp dụng các giải pháp như trồng rừng, quản lý chặt chẽ việc khai thác, và nâng cao nhận thức cộng đồng.

3.1. Giải pháp bảo tồn

Một trong những giải pháp quan trọng là bảo tồn cây gù hương thông qua việc thiết lập các khu bảo tồn và vườn quốc gia. Ngoài ra, cần thực hiện các dự án trồng rừngnhân giống bằng phương pháp giâm cành để tăng số lượng cây gù hương trong tự nhiên. Việc quản lý tài nguyên rừng cần được thực hiện chặt chẽ hơn, đặc biệt là kiểm soát việc khai thác trái phép.

3.2. Phát triển bền vững

Để phát triển bền vững cây gù hương, cần kết hợp giữa bảo tồn và khai thác hợp lý. Các chính sách về nông nghiệp bền vữngkinh tế rừng cần được áp dụng để đảm bảo nguồn tài nguyên được sử dụng hiệu quả và lâu dài. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của cây gù hương cũng là yếu tố quan trọng trong việc bảo tồn loài cây này.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ thực trạng khai thác và sử dụng cây gù hương cinnamomum balansae h lecomte tại huyện phú lương đại từ và huyện định hóa tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Thiên nhiên nhiệt đới Việt Nam đã tạo ra hệ thực vật đa dạng, đa lợi ích. Với hơn 19 triệu hecta rừng và đất rừng hệ thực vật này là 1 tiềm năng to lớn cho sự phát triển của đất nƣớc, thể hiện rõ lợi thế của ngành lâm nghiệp so với nhiều ngành sản xuất khác. Trong tập đoàn các loài cây đa mục đích đã đƣợc định danh ở Việt Nam, cây Gù hƣơng (Cinnamomum balansae) là loài cây có triển vọng đem lại giá trị kinh tế cao trong tƣơng lai, đặc biệt cho những ngƣời dân nghèo sống ở vùng núi. Đây là loài cây có giá trị kinh tế, thân gỗ dùng cho chế biến các sản phẩm mỹ nghệ.

Mặc dù có giá trị kinh tế và bảo tồn cao nhƣ vậy, nhƣng những nghiên cứu về loài cây này ở trên Thế giới và ở Việt Nam hiện nay còn rất thiếu. Phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức mô tả đặc điểm hình thái, định danh loài, mà chƣa đi sâu nghiên cứu nhiều về đặc tính sinh học, sinh thái học, gây trồng và bảo tồn loài. Vì thế, việc trang bị kiến thức về bảo tồn và phát triển loài cây Gù hƣơng là một việc làm cấp thiết. Để bảo vệ và phát triển bền vững loài cây Gù hƣơng thì việc tìm hiểu khai thác thực trạng, sử dụng loài cây này là cần thiết.

Vì vậy tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng khai thác và sử dụng cây Gù hƣơng (Cinnamomum balansae H. Lecomte) tại huyện Phú Lƣơng, Đại Từ và huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài - Xác định đƣợc thực trạng phân bố khai thác cây Gù hƣơng trên địa bàn nghiên cứu. - Xác định đƣợc tình hình sử dụng Gù hƣơng của ngƣời dân địa phƣơng.

- Đề xuất đƣợc các biện pháp bảo tồn và phát triển loài Gù hƣơng. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học Thực hiện đề tài củng cố phƣơng pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên và giúp cho sinh viên có cơ hội thực hành bài học ngoài thực địa, củng cố các kiến thức đã học, vận dụng các lí thuyết vào thực tế, nâng cao khả năng thu thập, tích lũy, phân tích, xử lí thông tin hiệu quả, đồng thời củng cố kĩ năng giao tiếp, tiếp cận và làm việc với cộng đồng, ngƣời dân.2 Ỹ nghĩa trong thực tiễn sản xuất Đề tài đánh giá đƣợc thực trạng khai thác, sử dụng loài Gù hƣơng và đề xuất giải pháp hạn chế tình hình khai thác. Bảo tồn và phát triển loài Gù hƣơng có giá trị. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.

Cơ sở khoa học Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi trƣờng sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dƣới loài đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng trong một tƣơng lai gần. Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nƣớc. Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết nhƣ quan hệ giữa bảo tồn loài và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH…vv.

Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH thì trong đó Gù hƣơng (Cinnamomum balansae) thuộc họ Long não (Lauraceae) là một loài cây quý, đa tác dụng. Hiện tại Loài đã đƣợc ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “hiếm” (Bậc R) và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thƣơng mại. Đây là loài cây có giá trị kinh tế, thân gỗ dùng cho chế biến các sản phẩm mỹ nghệ. Hiê ̣n nay thì cây Gù hƣơng đƣơ ̣c sƣ̉ du ̣ng theo 3 dạng khác nhau là sƣ̉ du ̣ng trong cuô ̣c số ng hàng ngày , sƣ̉ du ̣ng tron g nghiên cƣ́u khoa học, sƣ̉ du ̣ng cho môi trƣờng và sinh cảnh.

Trong cuô ̣c số ng hàng ngày thì cây Gù hƣơng đƣơ ̣c sƣ̉ du ̣ng làm lũa , làm vật liệu xây dựng , làm đồ thủ công mỹ nghê ̣ và đồ trang trí nô ̣i thấ t trong gia điǹ h. Hiê ̣n này các nhà nghiên cứu trên thế giới và Viê ̣t Nam đang nghiên cƣ́u loài cây này nhƣ thƣ̣c hiê ̣n các dƣ̣ án về bảo tồn , giâm hom phát triể n cây. Ngoài ra cây còn đƣợc sử dụng cho môi trƣờng nhƣ ta ̣o bóng mát và làm tăng sƣ̣ đa da ̣ng cho sinh cảnh. Do có giá trị n 4 kinh tế cao nên hiện nay hoạt động khai thác trái phép cây này ở Việt Nam đang là một điểm nóng (Lê Trọng Trái và cộng tác viên, 1999) [9].

Đây là cơ sở khoa học giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện khóa luận. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Cây Vù hƣơng hay còn gọi là Gù hƣơng có tên khoa học là Cinnamomum balansae H.lec thuộc họ re (Lauraceae) [12]. Loài này đƣợc Lecomte miêu tả khoa học đầu tiên năm 1913.

Các loại gỗ quý ở rừng nhiệt đới ngày càng giảm, thị trƣờng gỗ thế giới với lƣợng mua bán tăng 24 lần từ năm 1946 đến 1980 (larman, 1988). Các nƣớc đang phát triển là những nƣớc xuất khẩu gỗ lớn trong khi đó các nƣớc phát triển là các nƣớc nhập khẩu gỗ chính. Nhật Bản là nƣớc nhập khẩu gỗ lớn từ vùng Đông Nam Á và Châu Âu. Các nƣớc ở Châu Âu nhập khẩu gỗ chủ yếu từ các nƣớc thuộc Châu Phi.

Còn Hoa Kỳ là nƣớc nhập khẩu gỗ quan trọng nhất của các nƣớc ở Nam Mỹ. Tình hình nghiên cứu trong nước Gù hƣơng (Cinnamomum balansae) Cây gỗ to, thƣờng xanh, cao tới 50 m, đƣờng kính thân 0,7 - 1,2 m; cành nhẵn, màu hơi đen khi khô. Lá mọc cách, dai, hình trứng, dài 9 - 11 cm, rộng 4 - 5 cm, thót nhọn về hai đầu; gân bậc hai 4 - 5 đôi; cuống lá dài 2 - 3 cm, nhẵn. Cụm hoa chuỳ, ở nách lá, dài 4 - 5 cm, phủ lông ngắn màu nâu; cuống hoa dài 1 - 4 mm, phủ lông; bao hoa 6 thuỳ, có lông; nhị hữu thụ 9, bao phấn 4 ô; 3 nhị vòng trong cùng mỗi nhị có 2 tuyến; nhị lép 3, hình tam giác, có chân; bầu hình trứng, nhẵn, vòi ngắn, núm hình đĩa.

Quả hình cầu, đuờng kính 8 - 10 mm, đính trên đế hoa hình chén. Mùa hoa vào tháng 1 - 5, mùa quả chín tháng 6 - 9.Tái sinh bằng hạt hoặc giâm cành. Là Loài đặc hữu của Việt Nam. Trong thân và lá có tinh dầu với thành phần chính là long não.

Hạt chứa dầu béo. Gỗ tốt, không bị mối mọt, có mùi long não nên đƣợc ƣa chuộng để đóng các đồ đạc trong nhà nhƣ tủ, n 5 bàn ghế , Vốn là loài hiếm và tái sinh kém lại bị chặt lấy gỗ. Phân hạng: VUA1c [13]. Loài đã đƣợc ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “hiếm” (Bậc R) và danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thƣơng mại.

Đã đƣợc bảo vệ nguyên vẹn trong vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng ( Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 225) [2]. Loài cây có phân bố rải rác ở khu vực đồi, núi thấp của của các tỉnh phía Bắc. Hiện nay, số lƣợng cây vù hƣơng còn rất ít, chỉ còn thấy ở vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng (Ninh Bình), Ba Vì (Hà Tây), trong rừng thứ sinh và vƣờn hộ ở Thạch Thành (Thanh Hoá) và rải rác ở một số nơi; song hiện nay đã bị khai thác quá mức, không còn gặp nhiều trong rừng tự nhiên nên đƣợc xếp vào loại hiếm (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng, 1996) [1]. Khó tìm thấy cây có kích thƣớc lớn và không phải cây trƣởng thành nào cũng có quả, thu hái hạt giống ở cây lớn rất khó khăn, mặt khác do hạt có chứa nhiều tinh dầu, nhanh mất sức nảy mầm, tỷ lệ nảy mầm thấp, cho nên việc thử nghiệm nhân giống bằng hom để góp phần lƣu giữ nguồn gen là hết sức cần thiết (Nguyễn Hoàng Nghĩa và cs, 2009) [8].

Khi điều tra cho thấy vào khoảng những năm 1990 trở về trƣớc, các loài cây gỗ lớn và quý vẫn còn nhiều. Đặc biệt trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1947-1954), rừng Định Hóa còn đƣợc coi là “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, rừng có nhiều tầng tán, nhiều cây gỗ lớn và quý, đƣờng kính cây có thể từ 1m đến 2m. Tuy nhiên, hiện nay các cây gỗ có đƣờng kính thân cây 0,7m trở lên và các cây gỗ quý nhƣ Đinh, Lim, Sến, Táu, Nghiến. còn rất ít, chúng chỉ xuất hiện chủ yếu ở các khu di tích (Đồi Khau Tý, Khuôn Tát, Tỉn Keo) và rải rác trong các khu rừng tự nhiên, các cây có kích thƣớc nhỏ hơn thƣờng bị cong queo hoặc sâu bệnh.

Sở dĩ có hiện tƣợng nêu trên là do nạn chặt phá rừng trái phép xảy ra thƣờng xuyên của lâm tặc. n 6 Bên cạnh đó, nhóm cây này cũng đã và đang bị ngƣời dân khai thác quá mức, họ sử dụng gỗ để làm nhà, chuồng trại cho gia cầm, gia súc, nạn đốt rừng làm nƣơng rẫy cũng là những nguyên nhân chính làm cho nguồn tài nguyên này bị suy giảm cả về chất lƣợng và số lƣợng, ít có khả năng phục hồi (Nguyễn Anh Hùng , 2012) [6]. Những loài cho gỗ, có giá trị cao đang bị săn lùng bào gồm các loài: Gõ đỏ, Trắc, Cẩm lai, Lim xanh, Nghiến, Mun. Trong 6 tháng đầu năm 2010, lực lƣợng kiểm lâm Lạng Sơn đã thu giữ đƣợc 9.386 cục thớt nghiến.

Trong năm 2008, lực lƣợng kiểm lâm của Vƣờn quốc gia Yok Đôn phát hiện hơn 250 vụ khai thác gỗ trái phép với gần 650 cây gỗ thuộc nhóm quý hiếm nhƣ cẩm lai, giáng hƣơng. Trong quý I và quý II năm 2010, lực lƣợng kiểm lâm VQG Bù Gia Mập đã phát hiện khối lƣợng gỗ gõ đỏ và cẩm lai bị khai thác trộm ƣớc tính hơn 200 m 2 (Phạm Quốc Hùng và cs, 2010) [7].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực trạng khai thác và sử dụng cây gù hương tại Phú Lương, Đại Từ, Định Hóa, Thái Nguyên là một tài liệu chuyên sâu về việc khai thác và ứng dụng cây gù hương, một loài cây có giá trị kinh tế và sinh thái cao tại khu vực Thái Nguyên. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về hiện trạng khai thác, các phương pháp sử dụng bền vững, cũng như những thách thức và cơ hội trong việc bảo tồn loài cây này. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của cây gù hương đối với đời sống kinh tế và môi trường địa phương, đồng thời nhận được các gợi ý để phát triển bền vững nguồn tài nguyên này.

Nếu bạn quan tâm đến các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên và môi trường, hãy khám phá thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên các dạng lập địa chính vùng cát ven biển các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị. Để tìm hiểu sâu hơn về các mô hình phát triển kinh tế bền vững, Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Vĩnh Thạch tỉnh Bình Định là một tài liệu đáng đọc. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm thảm thực vật thoái hóa và một số mô hình rừng trồng ở thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh cũng mang đến những góc nhìn thú vị về quản lý và phục hồi tài nguyên rừng.