Chương 1: Tổng quan về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Chương 2: Thực trạng giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của thương nhân Việt Nam Chương 3: Kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế n 7 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1. KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ… Trong đó, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế diễn ra sôi nổi nhất và giữ vị trí trung tâm trong các giao dịch thương mại quốc tế và được thể hiện chủ yếu thông qua các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Thực tế hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Thay vào đó là các khái niệm cấu thành thuật ngữ “hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, đó là “hợp đồng”, “mua bán”, “hàng hóa”, “mua bán hàng hóa”. Nói cách khác chưa có một các xác định thống nhất tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, mà chỉ nêu lên một số khái niệm hay một số cách xác định yếu tố quốc tế của loại hợp đồng này. Ở Mỹ, Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ năm 1952 không trực tiếp đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhưng đưa ra định nghĩa về giao dịch quốc tế tại Điều 1-301, theo đó giao dịch quốc tế là giao dịch có mối quan hệ hợp lý với quốc gia khác với Mỹ. Mua bán chính là việc chuyển giao quyền sở hữu từ người bán sang người mua để nhận tiền.
Bộ luật Thương mại Thống nhất của Hoa Kỳ, tuy không trực tiếp đưa ra tiêu chí để xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhưng việc định nghĩa giao dịch quốc tế đã thể hiện của tiêu chí “trụ sở thương mại” của các bên ở các nước khác nhau. Tại Việt Nam, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra tiêu chí xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà liệt kê những hoạt động được coi là mua bán hàng hóa quốc tế. Điều 27 nêu rõ mua bán quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu, theo đó: n 8 “Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”2. “Nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”3.
“Tạm nhập, tái xuất hàng hoá là việc hàng hoá được đưa từ lãnh thổ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam”4. “Tạm xuất, tái nhập hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam”5. “Chuyển khẩu hàng hoá là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam”6. Thông qua khái niệm về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu nêu trên, Luật Thương mại năm 2005 đã sử dụng tiêu chí hàng hóa phải là động sản, hàng có thể được di chuyển qua biên giới của Việt Nam hoặc qua biên giới của một nước (vùng lãnh thổ), hoặc di chuyển qua khu chế xuất, khu vực hải quan riêng.
để xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Có một số tác giả đã đưa ra khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và xác định tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên nhiều yếu tố khác nhau. Theo đó: “hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản hợp đồng thương mại quốc tế (hợp đồng thương mại có yếu tố nước 2 Điều 28 khoản 1 Luật Thương mại năm 2005. 3 Điều 28 khoản 2 Luật Thương mại năm 2005.
4 Điều 29 khoản 1 Luật Thương mại năm 2005. 5 Điều 29 khoản 2 Luật Thương mại năm 2005. 6 Điều 30 khoản 1 Luật Thương mại năm 2005. Tính quốc tế hay đặc điểm có yếu tố nước ngoài của quan hệ chính là điểm khác biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường.
Yếu tố nước ngoài có thể được quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia cũng như trong pháp luật quốc tế, đó là các yếu tố liên quan đến quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở của các chủ thể liên quan đến nơi xác lập hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi có tài sản là đối tượng của hợp đồng.”7 Có thể thấy, theo quan điểm này, thì tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác định dựa trên 3 yếu tố: (i) chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng là các bên có quốc tịch, nơi cư trú hay trụ sở ở các quốc gia khác nhau (ii) khách thể của hợp đồng (hàng hóa) ở nước ngoài (iii) căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt hợp đồng xảy ra ở nước ngoài. Thực chất, các tác giả trên đây đã đồng nhất khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Thừa nhận rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài nhưng không phải mọi hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài đều là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Ví dụ: thương nhân A và thương nhân B đều là thương nhân Việt Nam.
Trong một lần đi du lịch tại Singapore họ đã gặp nhau và kí kết với nhau một hợp đồng mua bán hàng hóa, sau đó việc thực hiện hợp đồng được thực hiện tại Việt Nam, hàng hóa được mua bán cũng tại Việt Nam. Như vậy nếu theo quan điểm trên đây và chỉ dựa vào yếu tố là thương nhân A và thương nhân B kí kết hợp đồng tại Singapore mà coi đây là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì không thật sự hợp lí. Theo Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi tắt là Công ước Viên năm 1980), mặc dù không quy định về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhưng Điều 1 của Công ước đã gián tiếp xác định phạm vi của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như sau: “1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có địa điểm kinh doanh tại 7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại quốc tế, NXB CAND, Hà Nội, 2007, tr 207.
n 10 các quốc gia khác nhau… 2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên…”.8 Có thể thấy cơ sở duy nhất để xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980 là địa điểm kinh doanh của các bên phải đặt tại các quốc gia khác nhau mà không phụ thuộc vào địa điểm ký kết hợp đồng và cũng không xét đến việc hàng hóa có được dịch chuyển qua biên giới hay không. Hiện nay, đã có nhiều quốc gia tham gia Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, vì vậy có thể nói rằng pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu lãnh thổ của các bên kí kết hợp đồng. Việt Nam là thành viên của Công ước Viên 1980 nên việc tiếp thu quan điểm này một phần phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời còn tạo điều kiện trong việc xác định và áp dụng trong thực tiễn.
Các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trước hết đó phải là một hợp đồng, mang đầy đủ bản chất và đặc trưng của tất cả các loại hợp đồng nói chung. Ngoài ra, do hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng được kí kết giữa các bên có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau, tức là có yếu tố nước ngoài tham gia, vì vậy nó sẽ có những điểm khác biệt nhất định so với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường (trong nước). Vấn đề đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế rất ít khi được bàn đến trong các tài liệu nghiên cứu. Điều đó không có nghĩa là việc luận giải các đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là không quan trọng, mà ngược lại việc phân tích kĩ vấn đề này sẽ cho phép chúng ta có cái nhìn thật cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trên cơ sở đó sẽ tạo điều kiện cho việc phân tích những vấn đề khác.
Bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng thương mại có tính quốc tế hay có yếu tố nước ngoài. 8 Điều 1 Công ước Viên 1980.