ĐẶT VẤN ĐỀ Hoạt động thể lực (HĐTL) đƣợc xác định là một trong 4 yếu tố về hành vi lối sống quan trọng liên quan đến sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm (bao gồm bệnh tim mạch, đái tháo đƣờng, ung thƣ và bệnh hô hấp mạn tính) trên thế giới .Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2008, trên thế giới có 31% ngƣời lớn từ 15 tuổi trở lên thiếu HĐTL (nam 28% và nữ 34%) và đến năm 2010 có 23% ngƣời trên 18 tuổi và 81% thanh thiếu niên từ 11-17 tuổi thiếu các hoạt động thể lực [42]. Tỷ lệ thiếu HĐTL cao nhất là khu vực châu Mỹ và khu vực Đông Địa Trung Hải. Trong cả hai khu vực này có gần 50% phụ nữ thiếu HĐTL, trong khi tỷ lệ của nam giới là 40% ở châu Mỹ và 36% Đông Địa Trung Hải, khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ thiếu hoạt động thể lực thấp nhất (15% đối với nam và 19% đối với nữ) [40]. Tại Việt nam, sự phát triển kinh tế diễn ra mạnh mẽ cùng với sự thay đổi cấu trúc dân số, đô thị hóa, di dân, thay đổi môi trƣờng và thói quen sống kéo theo mô hình bệnh tật của Việt Nam cũng có nhiều sự thay đổi.
Trong khi tỷ lệ mắc các bệnh do nguyên nhân lây nhiễm đang giảm thì tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm (BKLN) lại gia tăng [8]. Báo cáo của WHO năm 2012 Việt nam có khoảng 520.000 trƣờng hợp tử vong do tất cả các nguyên nhân, trong đó tử vong do các BKLN chiếm tới 73% (379.600 ca), chủ yếu là các bệnh tim mạch, ung thƣ, đái tháo đƣờng và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [4]. Năm 2012, gánh nặng bệnh tật (DALY) của BKLN chiếm 66% tổng gánh nặng bệnh tật toàn quốc [5]. Phòng chống BKLN trở thành một trong những ƣu tiên của Việt Nam và đặt ra yêu cầu phải có nhiều chiến lƣợc đồng bộ để thực hiện, trong đó bao gồm cả việc tăng cƣờng hoạt động thể lực [2].
Theo báo cáo STEP của Bộ Y tế năm 2016, tỷ lệ thiếu hoạt động thể lực giảm từ 30,4% năm 2010 xuống còn 26,1% năm 2015 trong nhóm 25-64 tuổi. Tuy nhiên, sự cải thiện này chỉ thấy ở nam giới trong khi đó ở nữ giới không thay đổi.Vẫn còn tới gần 1/3 dân số (28,1%) thiếu hoạt động thể lực và đặc biệt tỷ lệ này trong nhóm 18-29 tuổi lên tới 33,4%, trong đó ở nam giới 18,2%, nữ giới 48,9% [7] [16]. Báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam 2015, ở khu vực Tây nguyên tỷ lệ thanh niên độ tuổi 19-24 thƣờng xuyên tập thể dục thể thao là 17,6% và chỉ có 37,8% thanh -2- niên trong độ tuổi này tự đánh giá sức khỏe bản thân ở mức tốt, chiếm tỷ lệ thấp thứ hai trong trong cả nƣớc [3]. Trƣờng Cao đẳng y tế Đăk Lăk nằm ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh ĐăkLăk, là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực y tế cho tỉnh Đăk lăk và các tỉnh lân cận.
Với chức năng nhiệm vụ đào tạo ra đội ngũ cán bộ y tế có kiến thức, kỹ năng, thái độ trong nghề nghiệp, đồng thời có sức khỏe và kiến thức phòng bệnh phù hợp với mô hình bệnh tật ngày càng có nhiều thay đổi. Trong nhiều năm qua cùng với giảng dạy kiến thức chuyên môn nhà trƣờng đẩy mạnh phong trào học tập và luyện tập thể dục thể thao, khuôn viên nhà trƣờng, khu nội trú đƣợc trang bị nhiều phƣơng tiện hoạt động thể lực cho sinh viên. Tuy nhiên, việc hoạt động thể lực của sinh viên còn chƣa nhiều, các hoạt động thể thao có diễn ra nhƣng chủ yếu là theo chƣơng trình giáo dục thể chất của nhà trƣờng. Nhằm trả lời cho câu hỏi thực trạng hoạt động thể lực của sinh viên của trƣờng là nhƣ thế nào? Các yếu tố nào liên quan đến hoạt động thể lực của sinh viên.
Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng hoạt động thể lực của sinh viên Trƣờng cao đẳng Y tế Đăk Lăk năm 2018 và một số yếu tố liên quan”. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ đƣa ra đƣợc các kết quả đánh giá về hoạt động thể lực của sinh viên, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp bằng chứng cho các hoạt động nâng cao thể lực cũng nhƣ phòng chống các bệnh không lây nhiễm cho lứa tuổi trẻ cũng nhƣ ngƣời dân Việt nam. -3- MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định mức độ hoạt động thể lực của sinh viên Trƣờng cao đẳng Y tế Đăk Lăk năm 2018.
Mô tả một số yếu tố liên quan đến hoạt động thể lực của sinh viên Trƣờng cao đẳng Y tế Đăk Lăk năm 2018. -4- CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Hoạt động thể lực Hoạt động thể lực đƣợc định nghĩa là tất cả các chuyển động của cơ thể có đƣợc do sự co cơ và làm tăng năng lƣợng tiêu thụ. Hoạt động thể lực bao gồm tất cả các loại chuyển động làm tiêu hao năng lƣợng [42]. Điều này đồng nghĩa với mọi hoạt động cơ bắp nhƣ đi bộ, làm việc nhà và làm vƣờn, các hoạt động về thể chất khi lao động, hoạt động ngoài trời, tập thể dục và tập luyện thể thao [38].
Thuật ngữ “hoạt động thể lực” không đồng nghĩa với “tập thể dục”. Bởi vì, tập thể dục chỉ là một cấu phần trong hoạt động thể lực. Đó là các hoạt động thể lực đƣợc lên kế hoạch với mục đích nhất định nhƣ để trở nên khoẻ mạnh hay để nâng cao sức khoẻ tƣơng đƣơng [42]. Hoạt động thể lực đƣợc đặc trƣng bởi 3 yếu tố [8]: tần suất, thời gian và cƣờng độ tập luyện.
- Tần suất: số lần hoạt động thể lực trong một khoảng thời gian xác định (ví dụ: một tuần). Đối với tập luyện thể lực, để đạt hiệu quả giữ gìn vóc dáng và sức khỏe tốt nhất, cần phải duy trì luyện tập thƣờng xuyên và đều đặn. Hiệu quả mang lại từ một buổi tập có thể tác động đến cơ thể trong nhiều ngày và mất đi sau đó [8]. - Thời gian: tổng số thời gian tham gia hoạt động thể lực.
HĐTL càng kéo dài thì hiệu quả càng lớn. Trong nhiều trƣờng hợp, tập luyện thể lực hàng ngày có thể chia ra làm nhiều buổi tập kéo dài khoảng 10-15 phút, miễn là đảm bảo đủ tổng thời gian tập một ngày [8]. - Cƣờng độ: tỷ lệ tiêu tốn năng lƣợng khi tham gia HĐTL. Bài tập cƣờng độ cao thì hiệu quả lên sức khỏe và vóc dáng càng nhiều, mặc dù những bài tập với cƣờng độ nặng có thể dẫn đến những tác động không mong muốn, những bài tập với cƣờng độ thấp đã có tác dụng nhƣng luyện tập với cƣờng độ cao hơn sẽ là yếu tố quan trọng giúp cải thiện và duy trì thể lực [8].
Chỉ số MET -5- Chỉ số MET (Metabolic Equivalents Task unit) đƣợc sử dụng để đo lƣờng cƣờng độ hoạt động thể lực. MET là tỷ lệ giữa mức chuyển hoá cơ bản của một ngƣời khi ngƣời đó vận động so với khi nghỉ ngơi. Một MET đƣợc định nghĩa là năng lƣợng tiêu thụ khi ngồi yên, tƣơng đƣơng với một lƣợng calo tiêu hao là 1kcal/kg cân nặng/giờ. Áp dụng các giá trị này để tính đƣợc tổng vận động thể lực [21].
Ngƣời có hoạt động thể lực ở mức trung bình đƣợc tính là sử dụng năng lƣợng (tiêu thụ calo) cao gấp 4 lần so với ngƣời ngồi yên; ngƣời hoạt động thể lực nặng (mức cao) sử dụng năng lƣợng cao gấp trên 8 lần khi ngồi yên. Tổng vận động thể lực của một ngƣời đƣợc biểu thị bằng MET - giờ, hoặc MET – phút [21]. Phân loại hoạt động thể lực Cƣờng độ hoạt động thể lực đƣợc chia làm 3 mức độ nặng, vừa và nhẹ [13]. Cụ thể nhƣ sau: Hoạt động cường độ nặng: là hoạt động thể lực ở mức gắng sức (tiêu tốn khoảng > 7 Kcal/phút), làm tăng nhịp thở và nhịp tim so với bình thƣờng rất nhiều.
Ví dụ: gánh vác nặng, thợ nề/hồ, đào xúc đất, cƣa xẻ, chạy dài, thể thao gắng sức, đạp xe từ ≥ 16 km/giờ. Hoạt động cường độ vừa phải: là hoạt động làm tăng nhịp thở và nhịp tim so với bình thƣờng một chút (tiêu tốn khoảng 3,5-7 Kcal/phút).Ví dụ: lau chùi nhà cửa, làm vƣờn, bơi lội, leo cầu thang, đánh cầu lông, bóng chuyền nghiệp dƣ, đạp xe từ 8-15 km/giờ. Hoạt động cường độ nhẹ: là nghỉ ngơi hoặc không hoạt động (tiêu tốn khoảng 3,5 Kcal/phút). Ví dụ: xem tivi, đọc sách báo, ngồi/nằm nghỉ.
Một số khuyến cáo về hoạt động thể lực Theo TCYTTG khuyến nghị, thời gian tham gia hoạt động thể lực có lợi cho sức khoẻ ở mỗi độ tuổi sẽ có sự đáp ứng khác nhau [32]. Trẻ em và thanh thiếu niên (5-17 tuổi): nên thực hiện ít nhất 60 phút/ngày hoạt động thể lực cƣờng độ vừa phải cho tới cƣờng độ nặng; hoạt động thể lực > 60 phút/ngày sẽ mang lại nhiều lợi ích sức khoẻ hơn. Người trưởng thành (18-64 tuổi): nên thực hiện ít nhất 150 phút/tuần hoạt động thể lực cƣờng độ vừa phải hoặc ít nhất 75 phút/tuần cho hoạt động thể lực cƣờng độ mạnh hoặc kết hợp cả hai hoạt động nêu trên với ít nhất 600 MET-phút/ tuần; ngƣời lớn nên -6- tăng thời lƣợng hoạt động thể lực cƣờng độ vừa phải > 300 phút/tuần hoặc tƣơng đƣơng để có nhiều lợi ích hơn về sức khoẻ. Người cao tuổi (≥ 65 tuổi): tƣơng tự với nhóm ngƣời trƣởng thành.
So với những ngƣời đáp ứng đƣợc các tiêu chí này, thì ngƣời không tham gia hoạt động thể lực đầy đủ, sẽ có nguy cơ tử vong do nhiều nguyên nhân, tăng từ 20% đến 30% [32]. Ý nghĩa của hoạt động thể lực: Hoạt động thể lực có thể coi là một biện pháp hữu hiệu để nâng cao sức khỏe và phòng chống bệnh tật. Một xã hội đƣợc tăng cƣờng hoạt động thể lực sẽ có tác dụng giảm thiểu gánh nặng bệnh tật. Cho tới nay, rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh đƣợc tác dụng của hoạt động thể lực trên một số bệnh và tình trạng bệnh nhƣ đái tháo đƣờng, tăng huyết áp, bệnh tim mạch, béo phì, ung thƣ đại tràng, loãng xƣơng và trầm cảm [8].
Trên thực tế, Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) đã có báo cáo chứng minh thiếu hoạt động thể lực là yếu tố nguy cơ đứng thứ tƣ đối với tử vong trên toàn cầu (chiếm 6% nguyên nhân tử vong). Hơn nữa, thiếu hoạt động thể lực ƣớc tính là nguyên nhân của 21-25% các ca ung thƣ vú và ung thƣ đại tràng; 27% bệnh đái tháo đƣờng và khoảng 30% gánh nặng các bệnh do thiếu máu cục bộ [42].