Chương 1 Tài liệu giai đoạn 1954-1975 bảo quản tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng Quy định số 210-QĐ/TW ngày 06 tháng 3 năm 2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: “Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam là toàn bộ tài liệu lưu trữ được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức tiền thân của Đảng, tổ chức chính trị-xã hội; tài liệu về thân thế, sự nghiệp và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các nhân vật lịch sử, tiêu biểu của Đảng, đồng thời là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước, của các tổ chức chính trị-xã hội” (Điều 1) [96, tr. 1] Nhằm quản lý thống nhất và bảo quản an toàn cũng như để sử dụng nguồn di sản văn hoá quý báu này một cách có hiệu quả, tài liệu của Đảng được bảo quản trong hệ thống Kho Lưu trữ của Đảng ở các cấp từ Trung ương đến địa phương. Cục Lưu trữ Trung ương Đảng có trách nhiệm trực tiếp quản lý Kho Lưu trữ Trung ương nơi tập trung bảo quản toàn bộ tài liệu của Đảng ở cấp Trung ương. Cụ thể, thành phần tài liệu của Kho Lưu trữ Trung ương gồm: -“ Tài liệu của các tổ chức tiền thân của Đảng, các tổ chức tiền thân của các tổ chức chính trị-xã hội; - Tài liệu của Đại hội Đảng toàn quốc và đại hội đảng bộ các cấp; tài liệu của các cấp uỷ đảng, các cơ quan, tổ chức đảng, ban cán sự Đảng, đảng đoàn Đảng Cộng sản Việt Nam (trước kia là Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam).
- Tài liệu của các tổ chức chính trị- xã hội, - Tài liệu về thân thế, sự nghiệp và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các lãnh tụ tiền bối của Đảng, các nhân vật lịch sử tiêu biểu của Đảng, đồng thời là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước, của các tổ chức chính trị- xã hội, 13 z - Tài liệu về hoạt động của các đảng cộng sản và công nhân, của các tổ chức và phong trào quốc tế, của các chiến sĩ cộng sản và nhân vật lịch sử quốc tế có liên quan đến Đảng ta. - Tài liệu của các chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc xâm lược và các chính quyền tay sai phản động có liên quan trực tiếp đến hoạt động của Đảng ta và của các tổ chức đoàn thể cách mạng”. 1-2] Tóm lại, tài liệu phản ánh quá trình thành lập, hoạt động của Đảng ta trong suốt hơn 80 năm qua đều được quản lý tập trung thống nhất tại Kho Lưu trữ Trung ương. Trong toàn bộ thành phần tài liệu này, khối tài liệu thuộc giai đoạn 1954-1975 chiếm một khối lượng khá lớn.
Những tài liệu được bảo quản tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng nói chung và những tài liệu thuộc giai đoạn 1954-1975 nói riêng là tài sản vô giá của Đảng, di sản văn hoá của dân tộc, phản ánh sự chỉ đạo, lãnh đạo tài tình, linh hoạt của Trung ương Đảng, công lao đóng góp của các lãnh đạo tiền bối và sự đoàn kết một lòng của nhân dân ta dưới lá cờ của Đảng trong những năm tháng đấu tranh giữ nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thành phần, số lượng tài liệu Giai đoạn 1954-1975 là một giai đoạn trọng đại của lịch sử dân tộc. Nhân dân ta đã anh dũng chiến đấu làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ chấn động địa cầu. Đất nước ta cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giành thống nhất nước nhà ở miền Nam.
Dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, nhân dân ta đã đoàn kết một lòng đè bẹp mọi ý chí xâm lược đất nước ta của kẻ thù, xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giành thống nhất nước nhà ở miền Nam. Chính trong giai đoạn này, Trung ương Đảng đã sản sinh ra nhiều tài liệu quan trọng, phản ánh chân thực về những sự kiện lịch sử trọng đại, khối tài liệu này đã và đang được thu thập, xác minh, bổ sung ngày càng đầy đủ hơn vào Kho Lưu trữ Trung ương Đảng nhằm bảo quản an toàn và phát huy giá trị tài liệu một cách có hiệu quả nhất. 14 z Thành phần tài liệu lưu trữ giai đoạn 1954-1975 tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng chiếm một khối lượng khá lớn trong toàn bộ khối tài liệu hiện đang được bảo quản tại đây, khoảng 60 phông lưu trữ trên tổng số 125 phông tài liệu trong Kho, tức là chiếm tới gần ½ số lượng tài liệu trong Kho. Đây là những tài liệu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II, III, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III, tài liệu của các cơ quan, ban tham mưu, giúp việc cho Trung ương Đảng trong giai đoạn 1954-1975 như Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tuyên huấn Trung ương, Ban Dân tộc Trung ương, Uỷ ban Cải cách ruộng đất Trung ương, Ban Thống nhất Trung ương, Ban Quốc tế nhân dân…, phông cá nhân của các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhân vật lịch sử tiêu biểu như Phông Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phông đồng chí Tổng Bí thư Trường Chính, Phông đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn…Như vậy, Thành phần tài liệu lưu trữ giai đoạn 1954- 1975 tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng cụ thể gồm: * Phông Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ III của Đảng Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III diễn ra từ 5 -10/9/1960.
Đại hội đã vạch ra chủ trương, đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới: đó là xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế miền Bắc và miền Bắc trở thành hậu phương lớn, chi viện cho miền Nam trong công cuộc kháng chiến giành thống nhất đất nước. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng mới gồm 78 đồng chí: 47 uỷ viên chính thức và 31 uỷ viên dự khuyết. Tài liệu Phông Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III (5-10/9/1960) gồm toàn bộ tài liệu phản ánh quá trình chuẩn bị, diễn biến, kết thúc của Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III và những nội dung được thảo luận tại Đại hội. Thuộc thành phần Phông gồm có : - Tài liệu chuẩn bị văn kiện Đại hội (Đề cương Báo cáo Chính trị, Dự thảo Báo cáo Chính trị, Biên bản Hội nghị của các tiểu ban…) của các Ban chuẩn bị Đại hội như: Ban Chuẩn bị Báo cáo Chính trị, Ban Chuẩn bị Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi điều lệ Đảng, Ban chuẩn bị báo cáo kế hoạch dài hạn; 15 z - Tài liệu của Đại hội trù bị.
Đại hội trù bị diễn ra từ 10/8 tới 27/8/1960. Tài liệu bao gồm: Diễn văn khai mạc, bế mạc, Biên bản của các Đoàn đại biểu…; - Tài liệu của Đại hội chính thức. Đại hội chính thức diễn ra từ ngày 5- 10/9/1960. Tài liệu bao gồm: Diễn văn khai mạc, Báo cáo Chính trị, Báo cáo sửa đổi Điều lệ Đảng, tài liệu nhân sự, biên bản họp các đoàn… - Tài liệu phần tổ chức Đại hội + Tài liệu của Ban Chấp hành Trung ương và của các ban, ngành chuẩn bị cho Đại hội, + Tài liệu của Ban tổ chức Đại hội như Tiểu ban phục vụ Đại hội, Tiểu ban văn kiện… Phông gồm 98 đơn vị bảo quản (đvbq) , thời gian của tài liệu khá dài từ khi xây dựng kế hoạch chuẩn bị cho Đại hội (3/1957) tới khi bế mạc Đại hội (10/9/1960).
* Phân phông Ban Chấp hành Trung ương Khoá II, III + Phân phông Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (2/1951- 9/1960) Nhiệm kỳ hoạt động của Ban Chấp hành TW Đảng Lao động Việt Nam khoá II kéo dài 9 năm (từ tháng 2/1951 đến 9/1960). Trong thời gian này, theo đường lối do ĐH toàn quốc lần thứ II của Đảng đề ra, BCH TW đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi năm 1954, lập lại hòa bình và xây dựng XHCH ở miền Bắc, tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược ở miền Nam. Như vậy, tài liệu Phông Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II phản ánh hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong giai đoạn (1951-1960), gồm: - Tài liệu Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Hội nghị Bộ Chính trị, Hội nghị Ban Bí thư, Hội nghị cán bộ như: Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất tử ngày 13 đến 16/3/1951 bàn về tổ chức bộ máy và lề lối làm việc 16 z của Trung ương, tình hình và nhiệm vụ trước mắt, về công tác kinh tế tài chính và công tác kiểm tra, Hội nghị Ban Bí thư năm 1952 bàn về công tác tuyên huấn… - Khối tài liệu tên gọi (nghị quyết, chỉ thị, thông tri, báo cáo…) do Trung ương Đảng ban hành, - Khối tài liệu về hoạt động đối ngoại (tài liệu về quan hệ đối ngoại của Đảng ta với Đảng cầm quyền một số quốc gia, quan hệ với các tổ chức quốc tế…), - Tài liệu về hội nghị Giơ-ne-vơ: Các bài trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo nước ngoài, sự chỉ đạo của Trung ương đối với hoạt động của đoàn Chính phủ ta tại Hội nghị… - Khối tài liệu đến từ các địa phương, bộ, ban, ngành, tổ chức chính trị xã hội gửi tới Trung ương (báo cáo, biên bản…). Phông gồm 1193 đvbq thời gian kéo dài từ khoảng 1951-1960.
Trong đó có 1103 đvbq có thời gian từ 1954-1960. +Phân phông Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III (9/1960 - 12/1976) Nhiệm kỳ hoạt động của Ban Chấp hành TW Đảng khoá III kéo dài 16 năm (9/1960-12/1976), dài gấp bốn lần so với quy định của Điều lệ Đảng. Nguyên nhân của sự kéo dài này do những điều kiện lịch sử đặc biệt của nước ta trong giai đoạn này. Đảng ta phải tập trung sức lãnh đạo cách mạng ở cả hai miền Nam-Bắc, không có điều kiện triệu tập đại hội.
Mặt khác, những đường lối do Đại hội Đảng lần thứ III đề ra vẫn phù hợp với cách mạng nước ta trong giai đoạn này.