ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, với sự phát triển một cách nhanh chóng của các ngành khoa học kỹ thuật thì nhu cầu được cập nhật, bổ sung kiến thức chuyên môn cùng các kỹ năng làm việc cho lực lượng lao động ngày càng trở nên quan trọng. Đặc biệt đối với lĩnh vực y tế là một ngành có những đặc thù riêng, nhiệm vụ của cán bộ y tế (CBYT) gắn liền với sức khỏe tính mạng con người. Do vậy, việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chế tối thiểu những sai sót chuyên môn là nhiệm vụ bắt buộc với mọi cán bộ y tế [2]. Trên thế giới, đào tạo y khoa liên tục luôn gắn với lịch sử ra đời và phát triển của ngành y.
Năm 1988 với sự phối hợp của Tổ chức y tế thế giới (WHO), Liên đoàn Giáo dục y học Thế giới (World Federation for Medical Education-WFME) đã xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học với mục tiêu chung là cung cấp được một số chính sách cho việc nâng cao chất lượng trong giáo dục y học. Bộ tiêu chuẩn quốc tế của WHO và WFME gồm có ba tập bao gồm cả ba giai đoạn của quá trình đào tạo y học, trong đó có đào tạo liên tục (ĐTLT)/Phát triển nghề nghiệp liên tục. Bộ tiêu chuẩn quốc tế này đã được ra Hội nghị toàn cầu về giáo dục y học tại Cophenhaghen (2003) và đã được chính thức thông qua, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và sử dụng tại nhiều nước [24]. Tại các nước Châu Âu, nơi có nền y học phát triển, một cuộc khảo sát trên 18 quốc gia đã minh họa sự đa dạng của các hệ thống đạo tạo y khoa liên tục.
Hà Lan có một hệ thống tái chứng nhận theo luật định, nhưng một số quốc gia khác bao gồm cả Anh và Ireland cán bộ y tế được phân loại và xem xét để giới thiệu đào tạo lại bắt buộc hoặc tái cấp chứng nhận hành nghề. Các nước khác nhau có cách tính chu kỳ đào tạo khác nhau, cứ hai năm, ba năm hoặc năm năm, và số tín chỉ yêu cầu dao động từ 50 đến 100. Các nước khác đang xem xét giới thiệu một hệ thống dựa trên giờ, nhưng vẫn còn nhiều tranh luận về việc hệ thống tích lũy giờ hoạt động giáo dục là thước đo giá trị của hoạt động đó. Có sự công nhận lẫn nhau về CME và phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD) giữa các nước thuộc liên minh Châu Âu và các nước Bắc Mỹ trong đó có Hoa Kỳ [24], [40].
2 Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành thông tư 22/2013/TT-BYT về hướng dẫn ĐTLT cho CBYT. Theo đó, Thông tư này quy định rõ CBYT đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia ĐTLT tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp [5]. Theo Bộ Y tế đến nay Việt Nam tuy bước đầu đã hình thành hệ thống đào tạo liên tục nhưng chưa hoàn chỉnh. Những chế độ, chính sách còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ khiến cho việc triển khai thực hiện ĐTLT gặp nhiều khó khăn.
Chất lượng đội ngũ nhân lực y tế không phát triển kịp theo nhu cầu, làm ảnh hưởng đến công tác chuyên môn của ngành y tế [11]. Bệnh viện viện C Thái Nguyên tiền thân là Bệnh viện Công ty xây lắp II trực thuộc Bộ Cơ khí luyện kim, là bệnh viện hạng I tuyến tỉnh với quy mô 660 giường kế hoạch (giường thực kê 900) và có 108 bác sỹ. Mặc dù Bộ Y tế đã ban hành thông tư 22 về hướng dẫn ĐTLT cho CBYT, bệnh viện đã chú trọng hơn đến công tác ĐTLT cho cán bộ y tế từ năm 2013, qua 06 năm thực hiện thì chúng tôi nhận thấy rằng mặc dù bệnh viện đã thực hiện đúng theo hướng dẫn của BYT đã có mã ĐTLT C3.02, với 16 chương trình ĐTLT đã được phê duyệt với 08 chương trình chuyên sâu dành cho bác sỹ,. tuy nhiên vẫn tồn tại một số hạn chế như: Chưa sắp xếp được các đối tượng Bác sỹ ở các khoa/phòng khác nhau thì cần đào tạo những nội dung gì, chưa đảm bảo được thời gian đào tạo liên tục, nội dung đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu đổi mới, công tác tổ chức đào tạo liên tục chưa được quan tâm, nguồn nhân lực còn thiếu để thực hiện đào tạo liên tục tại chỗ cho Bác sỹ.
Mặt khác, chưa có một khảo sát thực tế hay nghiên cứu nào đánh giá về thực trạng ĐTLT của Bác sỹ tại bệnh viện. Chính vì vậy, để giúp cho công tác tổ chức đào tạo liên tục cho đối tượng bác sỹ được thực hiện tốt hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng công tác Đào tạo liên tục cho Bác sỹ và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2019”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng đào tạo liên tục cho Bác sỹ làm việc tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2019.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho Bác sỹ làm việc tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2019. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu 1. Đào tạo liên tục trong ngành Y tế Đào tạo liên tục không phải là một khái niệm mới tại Việt Nam, khái niệm này đã xuất hiện trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh và rất nhiều các văn bản quản lý cũng như những tài liệu hướng dẫn quản lý do Bộ Y tế ban hành.
Đào tạo liên tục bao gồm các hoạt động giáo dục được cung cấp để duy trì, phát triển, nâng cao kiến thức, kỹ năng, hiệu suất làm việc và tác nghiệp của nhân viên y tế để cung cấp dịch vụ y tế cho người bệnh, cộng đồng hoặc nhằm tăng cường sự chuyên nghiệp. Nội dung của đào tạo liên tục là tổng thể của kiến thức và kỹ năng được công nhận về y học, những tiêu chuẩn về thực hành lâm sàng và cung cấp sức khỏe cho cộng đồng. Nghĩa rộng hơn của ĐTLT là bao gồm tất cả các hoạt động giáo dục thường xuyên nhằm hỗ trợ nhân viên y tế để hành nghề một cách có hiệu quả hơn [9]. Đào tạo liên tục (Continuing Medical Education được viết tắt là CME) là các khóa đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục; phát triển nghề nghiệp liên tục; đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc gia [5].
Phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development viết tắt là CPD): Tiếp tục phát triển chuyên môn (CPD) liên quan đến việc duy trì và nâng cao kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm liên quan đến các hoạt động nghề nghiệp của bạn sau khi hoàn thành khóa đào tạo chính thức. Cũng quan trọng không kém, nó liên quan đến việc phát triển những phẩm chất cá nhân cần có để thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn và kỹ thuật trong suốt cuộc đời của một chuyên gia. Cả kỹ năng kỹ thuật và phi kỹ thuật cần được phát triển [38]. Ngày nay nhằm thay đổi thái độ của cán bộ y tế, tổ chức y tế thế giới đã đưa ra thuật ngữ phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development viết tắt là CPD) và được sử dụng rộng rãi tại các nước Âu, Mỹ.
Ngoài các nội dung 5 giống như của CME, CPD còn bao gồm cả các phương pháp học tập khác ngoài hình thức nghe giảng và ghi chép là các hình thức tự học và tự phát triển của từng cá nhân. Phát triển nghề nghiệp liên tục đề cập việc cán bộ y tế sau khi đã hoàn thành giai đoạn đào tạo cơ sở, sẽ học tập trong suốt cuộc đời làm việc của mỗi người để cập nhật kiến thức, kỹ năng để đáp ứng nhu cầu của người bệnh, các dịch vụ y tế. CPD được xây dựng dựa trên nhu cầu chuyên môn của cán bộ y tế đồng thời cũng là giải pháp chính để cải thiện chất lượng. Khác với đào tạo chính quy hay đào tạo sau đại học được thực hiện theo các quy định và quy tắc cụ thể thì CPD lại chủ yếu là các hoạt động học tập trên cơ sở định hướng cá nhân và thực hành để thúc đẩy nâng cao năng lực nghề, nhằm duy trì và nâng cao năng lực từng cá thể để đáp ứng được các nhu cầu ngày càng tăng của người bệnh và của hệ thống y tế.
Trên thực tế hiện nay ở nước ta đang đồng nhất giữa CPD và CME [9]. Bác sỹ Là người duy trì, phục hồi sức khỏe con người bằng cách nghiên cứu, chẩn đoán và chữa trị bệnh tật, thương tật dựa trên kiến thức về cơ thể con người. Bệnh viện Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh viện là một bộ phận của một tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng đảo bảo cho nhân dân được săn sóc toàn diện về y tế cả chữa bệnh và phòng bệnh; Công tác ngoại trú của bệnh viện tỏa tới tận gia đình; Bệnh viện còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu sinh vật xã hội. Với quan niệm này, bệnh viện không tách rời, biệt lập và phiến diện trong công tác chăm sóc sức khỏe nói chung, mà bệnh viện đảm nhiệm một chức năng rộng lớn, gắn bó hài hòa lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và xã hội.
Theo Quyết định số: 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19 tháng 9 năm 1997 của Bộ Y tế, ban hành quy chế bệnh viện, bệnh viện đa khoa được chia thành 4 hạng : Bệnh viện hạng đặc biệt, bệnh viện đa khoa hạng I, bệnh viện đa khoa hạng II, bệnh viện đa khoa hạng III [7]. Nhu cầu đào tạo Nhu cầu đào tạo không phải chỉ đơn thuần là nhu cầu của bản thân người cán bộ y tế mà nó còn là nhu cầu, trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức hay cá nhân 6 sử dụng nguồn nhân lực y tế. Nếu một đơn vị y tế chỉ trông chờ vào trình độ chuyên môn hiện có của đội ngũ nhân viên mà không có kế hoạch và biện pháp đào tạo, bồi dưỡng liên tục nguồn nhân lực của mình thì khó có thể phát triển được đơn vị, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân [9].