ĐẶT VẤN ĐỀ Y học cổ truyền (YHCT) Việt Nam có lịch sử lâu đời. Trƣớc khi nƣớc ta có Y học hiện đại, Y dƣợc cổ truyền là một hệ thống Y dƣợc duy nhất có tiềm năng và vai trò to lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong suốt hàng ngàn năm đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc [7]. Y dƣợc cổ truyền có nhiều cây thuốc quý, nhiều bài thuốc hay, trải qua thực tiễn hàng ngàn năm đến nay vẫn còn nguyên giá trị chữa bệnh cứu ngƣời. Cội nguồn là những kinh nghiệm dân gian hình thành qua quá trình đấu tranh sinh tồn với bệnh tật, đƣợc lƣu truyền và liên tục đƣợc bổ sung bởi kinh nghiệm của các thế hệ, đƣợc soi sáng bởi nền tảng lý luận vững chắc, đang ngày càng một hoàn thiện và khoa học hơn, khẳng định đƣợc vị trí và vai trò trong chăm sóc sức khỏe (CSSK), song hành cùng với sự phát triển của y học hiện đại (YHHĐ).
Đặc biệt nhiều bài thuốc bồi bổ cơ thể đƣợc nhiều ngƣời Việt Nam sử dụng đã góp phần nâng cao thể trạng giống nòi. Hơn thế nữa, nhiều phƣơng pháp chữa bệnh không dùng thuốc nhƣ châm cứu, dƣỡng sinh, xoa bóp, bấm huyệt, khí công… không chỉ ngƣời Việt Nam ƣa chuộng trong phòng và chữa bệnh mà nhiều ngƣời dân trên thế giới cũng tin dùng [7]. Đƣờng lối phát triển y học Việt Nam đã đƣợc khẳng định trong Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị là đẩy mạnh việc nghiên cứu, kế thừa, bảo tồn và phát triển Y dƣợc học cổ truyền thành một chuyên ngành khoa học [1]. Ngày 07/02/2002, Bộ Y tế đã có Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT ban hành chuẩn quốc gia y tế xã [4], trong đó, hoạt động YHCT đƣợc quy định tại chuẩn IV với mục tiêu kế thừa, bảo tồn và phát triển Y dƣợc cổ truyền, kết hợp với YHHĐ trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe (BVSK) nhân dân, xây dựng nền Y dƣợc Việt Nam hiện đại, khoa học dân tộc và đại chúng.
Ngày 30/11/2010, Thủ tƣớng Chính phủ ký Quyết định số 2166/QĐ-TTg, ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dƣợc học cổ truyền Việt Nam đến 2020. Mục tiêu của kế hoạch nhằm hiện đại hóa và phát triển mạnh y, dƣợc cổ truyền trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao 12 sức khỏe nhân dân, củng cố và phát triển tổ chức, mạng lƣới y, dƣợc cổ truyền. Mục tiêu cụ thể của kế hoạch về khám chữa bệnh bằng y, dƣợc cổ truyền là đến năm 2015, tuyến trung ƣơng đạt 10%, tuyến tỉnh đạt 15%, tuyến huyện đạt 20% và tuyến xã đạt 30%. Đến năm 2020, tuyến trung ƣơng đạt 15%, tuyến tỉnh đạt 20%, tuyến huyện đạt 25% và tuyến xã đạt 40% [12].
Tuy nhiên, công tác phát triển YHCT vẫn chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu trong tình hình mới. Theo một số nghiên cứu gần đây cho thấy, việc sử dụng YHCT trong điều trị tại tuyến y tế cơ sở còn thấp. Trên thực tế việc triển khai những chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc và Ngành Y tế về phát triển YHCT vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là ở các Trạm Y tế (TYT) phƣờng tại các tỉnh, thành phố. Ba Đình là quận nội thành, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và du lịch của thành phố Hà Nội, với dân số là 228.352, đƣợc chia thành 14 phƣờng, trải rộng trên diện tích 9.
Trên địa bàn quận có 14 TYT, trong đó 100% các TYT đã đạt Chuẩn Quốc gia. Theo báo cáo kết quả công tác y tế năm 2010, phƣơng hƣớng nhiệm vụ năm 2011 của Trung tâm Y tế (TTYT) quận Ba Đình cho thấy tỷ lệ khám chữa bệnh (KCB) bằng YHCT kết hợp với YHHĐ các đơn vị đạt từ 20% trở lên [19]. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều TYT có diện tích chật hẹp, không có vƣờn thuốc nam, thiếu cán bộ chuyên trách về YHCT. Tỷ lệ ngƣời dân đến khám chữa bệnh bằng YHCT tại các TYT còn thấp, đặc biệt là việc áp dụng phƣơng pháp chữa bệnh không dùng thuốc.
Để đạt đƣợc và duy trì tốt công tác khám chữa bệnh bằng YHCT, đặc biệt ở tuyến cơ sở cần có những nghiên cứu việc cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bằng YHCT, qua đó giúp cho các nhà quản lý có kế hoạch phát triển YHCT một cách tổng thể, phù hợp với hoàn cảnh của từng địa phƣơng. Câu hỏi đặt ra là thực trạng cung cấp và sử dụng YHCT tại các phƣờng quận Ba Đình nhƣ thế nào? các yếu tố nào liên quan đến việc sử dụng YHCT của ngƣời dân? Cho đến nay chƣa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này tại các TYT phƣờng trên địa bàn quận Ba Đình. 13 Với những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng cung cấp, sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền và một số yếu tố liên quan tại các Trạm Y tế phường, quận Ba Đình, Hà Nội năm 2011”. 14 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng cung cấp, sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tại các Trạm Y tế phƣờng, quận Ba Đình, Hà Nội năm 2011. Mục tiêu cụ thể 2. Đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại các Trạm Y tế phƣờng, quận Ba Đình, Hà Nội năm 2011. Đánh giá thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại các Trạm Y tế phƣờng, quận Ba Đình, Hà Nội năm 2011.
Xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng dịch vụ y học cổ truyền tại các Trạm Y tế trên địa bàn nghiên cứu năm 2011. 15 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm chung về Y học cổ truyền Theo định nghĩa của WHO: “YHCT hay còn đƣợc gọi là Y học dân tộc (Traditional medicine) là toàn bộ những kiến thức, kỹ năng, thực hành dựa trên những nền tảng lý luận, lòng tin và kinh nghiệm của mỗi khu vực, mỗi nền văn hóa khác nhau. Đƣợc sử dụng để duy trì sức khỏe, cũng nhƣ phòng và chữa bệnh, cải thiện, điều trị những rối loạn thể chất, tinh thần” [31].
WHO đã nhận định về lợi ích của YHCT: “Không cần phải chứng minh lợi ích của YHCT mà cần phải đề cao và khai thác rộng rãi hơn những khả năng của nó có lợi cho toàn thể nhân loại, phải đánh giá và công nhận cho đúng chân giá trị của nó và làm cho nó hữu hiệu hơn, chắc chắn hơn, rẻ tiền hơn để sử dụng nhiều hơn”. Về chữa bệnh và các phƣơng pháp chữa bệnh theo âm dƣơng ngũ hành, chữa bệnh là điều hòa lại sự mất thăng bằng về Âm Dƣơng của cơ thể tùy theo tình trạng hƣ thực, hàn nhiệt của bệnh bằng các phƣơng pháp khác nhau nhƣ Thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công… 1. Y học cổ truyền ở một số nƣớc trên thế giới Trong tuyên ngôn Alma - Ata “Sức khỏe cho mọi ngƣời” năm 1978, WHO đã kêu gọi các quốc gia chấp nhận YHCT vào trong hệ thống CSSK và công nhận vị trí của thầy thuốc YHCT trong hệ thống y tế. Kết quả là sau hơn 30 năm , việc sử dụng YHCT trong CSSK ban đầu tại tuyến y tế cơ sở đã tăng lên một cách đáng kể ở những nƣớc đang phát triển cũng nhƣ việc sử dụng những thuốc bổ trợ và thay thế ở những nƣớc phát triển trên thế giới.
Do đó, ngay trong những năm đầu của thế kỷ 21, WHO đã đề ra chiến lƣợc về YHCT trong giai đoạn 2002 - 2005 để kết hợp YHCT vào trong hệ thống y tế quốc gia [29]. Qua các nghiên cứu cho thấy, Y học cổ truyền đƣợc sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới, cụ thể là: 16 Một nghiên cứu tại Nauru năm 1997 đã cho thấy 60% ngƣời tham gia nghiên cứu và 71% bệnh nhân đang điều trị trong bệnh viện sử dụng YHCT [30]. Theo báo cáo của Bộ Y tế Philippines có khoảng 250.000 thầy thuốc YHCT đang hoạt động tại nƣớc này, họ đặc biệt có hiệu quả trong việc hƣớng dẫn ngƣời dân tại cộng đồng trong CSSK ban đầu [30]. Tại Singapore, có khoảng 12% bệnh nhân ngọai trú sử dụng YHCT.
Một khảo sát của Bộ Y tế năm 1994 cho thấy 45% ngƣời dân Singapore sử dụng YHCT và 19% ngƣời dân Singapore đã sử dụng YHCT trong năm trƣớc đó. Tại Bangladesh 70 - 75% dân số sử dụng YHCT, tiếp cận với YHCT trƣớc tiên khi họ gặp vấn đề sức khỏe [38]. Tại Lào, trong nghiên cứu của K.Sydra và cộng sự điều tra 600 hộ gia đình về sử dụng YHCT. Tỷ lệ ngƣời sử dụng YHCT là 77%, có rất ít khác biệt giữa thành thị và nông thôn, và không có sự khác biệt trong sử dụng YHCT giữa ngƣời dân sống ở vùng núi cao và đồng bằng.
Các bệnh chủ yếu khi sử dụng YHCT là những chứng bệnh thông thƣờng nhƣ cảm mạo, sốt, tiêu chảy, sốt rét và rối loạn tiêu hóa[27]. Cuba là một nƣớc thuộc nhóm đang phát triển, tuy nhiên những chỉ số sức khỏe của Cuba rất tốt, tỷ lệ sử dụng YHCT trong các cơ sở y tế rất cao, 86% các y bác sĩ Cuba sử dụng các phƣơng pháp chữa bệnh bằng YHCT trong điều trị [25]. Ngƣời bệnh sử dụng YHCT hay các biện pháp thay thế bổ trợ còn tìm thấy sự hài lòng trong các dịch vụ cung cấp về chất lƣợng, về tính an toàn trong sử dụng. Các báo cáo khảo sát của Mỹ đã chỉ ra rằng những phàn nàn của ngƣời bệnh về các dịch vụ khám chữa bệnh YHCT ít hơn YHHĐ.
Nhật Bản cũng là một quốc gia có nền YHCT lâu đời và phát triển với lịch sử trên 1400 năm. Đây là nƣớc đƣợc xem là có tỷ lệ ngƣời sử dụng YHCT cao nhất thế giới hiện nay. YHCT Nhật Bản là sự kết hợp giữa YHCT Trung Quốc và y học dân gian Nhật Bản gọi chung là Kampo. Khoảng 65% các bác sĩ Nhật Bản đã sử dụng phối hợp YHCT với YHHĐ trong khám chữa bệnh.
Một khảo sát đƣợc tiến hành tại Tokyo năm 1990 cho thấy 91% số ngƣời tham gia đánh giá cao hiệu quả 17 của YHCT đối với các bệnh mạn tính, 49% đã sử dụng thuốc thảo dƣợc và 30% đã sử dụng châm cứu trong CSSK [26]. Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền YHCT phát triển cao, lâu đời và có ảnh hƣởng sâu sắc đến nền YHCT của nhiều quốc gia nhƣ Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam, .