CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THUẾ VÀ KẾ TOÁN THUẾ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về thuế 1. Khái niệm về thuế Trong các sách báo trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này.
Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản, C.Mác đã chỉ rõ: “ Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của người công dân của Nhà nước đó là thuế má…” Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Ở nước ta hiện nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất.TS Nguyễn Thị Liên, “Giáo trình Thuế” Học viện tài chính, 2009 có nêu: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”. Đặc điểm về thuế Từ khái niệm thuế nói trên ta có thể tìm hiểu bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của thuế.
Thuế mang tính chất bắt buộc: Thuế khác với đa số các khoản chuyển giao tiền từ người này sang người khác. Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế là một khoản bắt buộc. Thuế có đặc điểm này bởi những lí do sau: - Thứ nhất: Hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc chuyển giao. - Thứ hai: Trong xã hội văn minh thì nhu cầu về hàng hóa công cộng ngày càng tăng mà phần lớn là do nhà nước cung cấp.
Để duy trì hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng thì thu nhập về hàng hóa công cộng từ những người thụ hưởng phải bù đắp SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thị Ái Mỹ các chi phí bỏ ra. Nhưng hàng hóa công cộng lại có tính chất đặc biệt, nó không thể phân bổ theo phần để sử dụng và người thụ hưởng cũng không muốn sử dụng theo khẩu phần. Mặt khác hàng hóa công cộng không có tính chất cạnh tranh và không thể trao đổi trên thị trường để bù đắp các chi phí. Chính vì vậy xuất hiện tình trạng sử dụng hàng hóa công cộng nhưng lại không tự nguyện trả tiền.
Do đó, để đảm bảo cung cấp hàng hóa cho xã hội nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp thuế để bù đắp cho chi phí đó. Tuy nhiên, hành động nộp thuế cho nhà nước không được xem là biểu hiện của hành vi phạm pháp mà được thể hiện là nghĩa vụ đối với nhà nước. Thuế mang tính pháp lí: Điều đó được thể hiện thông qua các quy định cần thiết về phạm vi và hình thức, các thủ tục và quy trình pháp lí liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế. Thuế không hoàn trả trực tiếp: Thuế có tính chất này là do: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước.
Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng hay hứa hẹn cung ứng một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Cũng như vậy, người nộp thuế không hề phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không được hoặc ít được sử dụng các dịch vụ công cộng.
Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi được thừa hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế mà họ phải trả và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này. Vai trò của thuế Thuế có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhà nước và xã hội: - Là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nước - Là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, bảo vệ sản xuất nội địa và duy trì khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. - Là công cụ điều hòa thu nhập hướng đến mục tiêu công bằng xã hội - Là công cụ thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động SXKD SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thị Ái Mỹ 1. Phân loại thuế Tùy theo tiêu thức phân loại thuế mà có các loại thuế khác nhau Nếu theo phương thức đánh thuế: - Thuế trực thu: Thuế trực thu là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân.
Thuế trực thu là loại thuế mà người, hoạt động, tài sản chịu thuế và nộp thuế là một. - Thuế gián thu: Thuế gián thu là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành của giá cả hàng hoá. Thuế gián thu là hình thức thuế gián tiếp qua một đơn vị trung gian (thường là các doanh nghiệp) để đánh vào người tiêu dùng. Thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một.
Chẳng hạn, chính phủ đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Nếu theo đối tượng chịu thuế - Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhận được. Thu nhập này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: Thu nhập từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt động SXKD dưới dạng lợi nhuận, lợi tức, cổ phần. Ví dụ: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Thuế tiêu dùng là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là phần thu nhập đựơc mang tiêu dùng trong hiện tại. Như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng. - Thuế tài sản là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là giá trị tài sản. Thuế tài sản thường đánh trên giá trị của TSCĐ gọi là thuế bất động sản, đánh trên tài sản gọi là thuế động sản.
Theo phạm vi thẩm quyền về thuế - Thuế trung ương là các hình thức thuế do các cơ quan đại diện chính quyền Nhà nước ở trung ương ban hành. - Thuế địa phương là do chính quyền địa phương ban hành Ngoài ra còn có nhiều cách phân chia thuế khác. Hệ thống thuế hiện hành ở Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam có các loại thuế là: SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thị Ái Mỹ - Thuế giá trị gia tăng - Thuế thu nhập doanh nghiệp - Thuế xuất khẩu, nhập khẩu - Thuế tiêu thụ đặc biệt - Thuế thu nhập cá nhân - Thuế tài nguyên - Thuế môn bài - Thuế sử dụng đất nông nghiệp - Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp - Thuế chuyển quyền sử dụng đất 1. Nội dung công tác thuế GTGT 1.
Khái niệm thuế GTGT Thuế GTGT là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng (theo điều 2.Thuế GTGT, luật thuế GTGT số 13/2008/QH12). Đặc điểm, vai trò thuế GTGT a. Đặc điểm Thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn, thuế đánh vào tất cả các giai đoạn và chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT có tính trung lập cao, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, cũng không phải là yếu tố của chi phí mà đơn thuần chỉ là khoản cộng thêm vào giá bán cho nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Thuế GTGT là thuế gián thu, điều đó thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người chịu thuế không phải là một người. Người nộp thuế là người SXKD, còn người chịu thuế là người tiêu dùng. Thuế GTGT còn mang đặc điểm lũy thoái so với thu nhập, điều này thể hiện ở việc người tiêu dùng không kể người có thu nhập bao nhiêu cũng phải trả một khoản thuế như nhau khi cùng sử dụng một loại hàng hóa, dịch vụ. SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thị Ái Mỹ b.
Vai trò Sự phát minh ra thuế GTGT được xem là một phát minh lớn đối với nền kinh tế. Ngày nay nó càng thể hiện rõ tầm quan trọng trong việc quản lí của nhà nước. Điều đó được thể hiện qua: - Thuế GTGT được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hóa hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo ra được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN. - Thuế GTGT tạo điều kiện thuận lợi cho hàng xuất khẩu khi số thuế xuất khẩu sẽ được khấu trừ hoặc hoàn lại.
Đồng thời bảo hộ hàng hóa nội địa, khi cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu. - Thuế GTGT giúp chống thất thu thuế của nhà nước khi tất cả khoản thuế được hoàn trả hoặc khấu trừ đều được thực hiện dựa trên hóa đơn. Không những thế nó còn được tính trên hai chỉ tiêu là thuế GTGT đầu ra và thuế GTGT đầu vào nên hạn chế việc thông đồng giữa người mua và người bán. - Thuế GTGT mang tính trung lập nên không tác động tới hành vi mua hàng của người mua.
- Thuế GTGT nâng cao tính tự giác cho người nộp thuế khi thuế GTGT được tính vào ngay giá cả hàng hóa. Đối tượng chịu thuế và nộp thuế GTGT Thuế GTGT tác động hầu hết các hàng hóa, dich vụ trên thị trường - Đối tượng chịu thuế là hàng hóa, dịch vụ dùng cho SXKD và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế (Điều 2, thông tư 219/2013/ TT - BTC). - Đối tương nộp thuế GTGT : Là các tổ chức, cá nhân SXKD hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT tại Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT. SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.