Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm về nước ăn uống và cơ sở cung cấp nước. Theo thông tư số: 50/2015/TT-BYT của Bộ Y tế đưa ra một số khái niệm về nước ăn uống, nước thành phẩm và cơ sở cung cấp nước như sau [5]: - Nước ăn uống: là nước dùng cho các mục đích ăn uống, chế biến thực phẩm do các cơ sở cung cấp nước cung cấp, bảo đảm chất lượng theo các quy chuẩn kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành. - Nước thành phẩm: là sản phẩm nước đã kết thúc công đoạn cuối cùng của quá trình xử lý nước và được đưa vào mạng lưới đường ống hoặc phương tiện phân phối nước để cung cấp cho tổ chức, cá nhân sử dụng. - Cơ sở cung cấp nước: là tổ chức, cá nhân thực hiện một phần hoặc tất cả các hoạt động khai thác, sản xuất, kinh doanh, cung cấp nước ăn uống, nước sinh hoạt.
Theo thông tư số: 16/2012/TT-BXD của Bộ xây dựng cũng đưa ra một số khái niệm về cấp nước an toàn, bảo đảm cấp nước an toàn và kế hoạch cấp nước an toàn cho cộng đồng dân cư đô thị như sau [3]: - Cấp nước an toàn: là việc cung cấp nước ổn định, duy trì đủ áp lực, liên tục, đủ lượng nước, đảm bảo chất lượng nước theo quy chuẩn quy định. - Bảo đảm cấp nước an toàn: là những hoạt động nhằm giảm thiểu, loại bỏ, phòng ngừa các nguy cơ, rủi ro gây mất an toàn cấp nước từ nguồn nước qua các công đoạn thu nước, xử lý, dự trữ và phân phối đến khách hàng sử dụng nước. - Kế hoạch cấp nước an toàn: là các nội dung cụ thể để triển khai thực hiện việc bảo đảm cấp nước an toàn.2 Tình hình cấp nước trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình cấp nước trên thế giới Tài nguyên nước là tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo, là các nguồn nước mà con người có thể sử dụng với các mục đích khác nhau như hoạt động sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, giải trí và các mục đích khác. Các nguồn 5 nước thiên nhiên sau khi xử lý được cung cấp cho các nhu cầu sử dụng của con người gọi là nước cấp.
Nước cấp được lấy chủ yếu từ nguồn nước mặt và nước ngầm, một phần nhỏ lấy từ nước mưa, ước tính có khoảng 70% nguồn nước được khai thác là nước mặt còn lại là nước ngầm [23]. Tình trạng cấp nước tại các nước trên thế giới không đồng đều cả về số lượng và chất lượng nước giữa các nước có trữ lượng lớn về nước và những nước thiếu thốn nước như: ở Iceland lượng nước cấp là 605.000 m3/đầu người trong khí đó ở Israel chỉ có 289 m3/đầu người. Ở Canada lượng nước cấp là 94.000 m3/đầu người trong khi đó ở Singapore có 172 m3/đầu người. Ở Panama lượng nước cấp là 33.000 m3/đầu người trong khi đó ở Jordan có 114 m3/đầu người.
Ở Brazil lượng nước cấp là 31.000 m3/đầu người trong khi đó ở Malta có 85 m3/đầu người hay ở Gabon lượng nước cấp là 140.000 m3/đầu người trong khi đó ở Moldavia có 225 m3/đầu người [48]. Trên thế giới việc cung cấp nước cho người dân sử dụng đã được cải thiện rất nhiều ước tính hiện nay có khoảng 5,9 tỷ người chiếm khoảng 87% dân số được tiếp cận với nước để sử dụng tăng khoảng 1,8 tỷ người so với năm 1990 [47] nhưng tỷ lệ cung cấp nước lại rất khác nhau như: nhiều vùng lãnh thổ Sahara và Châu phi có khoảng 60% dân số được tiếp cận với nguồn nước cấp, các vùng ở Châu đại dương tỉ lệ này chỉ có 50% trong khi đó ở Bắc phi hay Mỹ la tinh tỉ lệ người dân tiếp cận nguồn nước để sử dụng lên đến 90% [46]. Sự phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, sự bùng nổ dân số và đô thị hóa đã làm gia tăng nhu cầu sử dụng nước của con người. Theo ước tính, bình quân trên toàn thế giới có khoảng 40% lượng nước cung cấp được sử dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10% cho sinh hoạt.
Tuy nhiên, nhu cầu nước sử dụng nước lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia. Như ở Hoa Kỳ, khoảng 44% nước được sử dụng cho công nghiệp, 47% sử dụng cho nông nghiệp và 9% cho sinh hoạt và giải trí. Ở Trung Quốc thì 7% nước được dùng cho công nghiệp, 87% cho nông nghiệp, 6% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí [40]. Bản báo cáo của Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) công bố trước thềm hội nghị tại diễn đàn nước thế giới năm 2013 cho biết trên thế giới có 2,5 tỷ người đang khát nước sạch, chiếm hơn 1/3 dân số toàn cầu.
Đây là một con số đáng 6 báo động vì chỉ 2 năm trước đây năm 2011 con số này chỉ dừng ở 1 tỷ người. Theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), nhu cầu về nước vào năm 2050 sẽ tăng lên 55% [48]. Diễn đàn thế giới về nước lần thứ 4 diễn ra tại thủ đô Mexico có sự tham gia của hơn 11.000 đại biểu từ 130 nước đã cảnh báo tình trạng thiếu nước nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Báo cáo về nguồn nước toàn cầu công bố nhân ngày nước thế giới hàng năm (22/3), cho biết hiện nay có tới 16% dân số thế giới không được dùng nước sạch, 49% dân số thế giới không được hưởng các điều kiện vệ sinh tối thiểu trong đó hơn 50% dân số sống ở Trung Quốc và Ấn Độ.
Trong khi nhiều khu vực trên thế giới có tới 40% nguồn nước bị lãng phí, hoặc bị khai thác bừa bãi, gây ô nhiễm, chỉ có 12% số nước phát triển có hệ thống quản lý nguồn nước hiệu quả. Trước tình trạng sử dụng nguồn nước lãng phí như hiện nay, “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ” do Liên Hiệp Quốc đề ra là giảm 50% số người không được sử dụng nước sạch và các điều kiện vệ sinh tối thiểu vào năm 2015 nhưng mục tiêu này đã không thể thực hiện được [48].2 Hiện trạng cấp nước ở Việt Nam Việt Nam là nước tăng dân số nhanh, tỉ lệ tăng dân số chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn nên nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ở đô thị là rất lớn. Vấn đề nước cấp đang là vấn đề lớn của Việt Nam: nguồn nước dồi dào nhưng chưa đảm bảo chất lượng cho sử dụng; rất nhiều vùng trên lãnh thổ Việt Nam nguồn nước cấp đang bị ô nhiễm bao gồm cả nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm. Nguồn nước cạn kiệt do chưa có biện pháp dự trữ hợp lí, do phá rừng, bên cạnh đó là nguyên nhân khách quan do biến đổi khí hậu.
Theo số liệu thống kê của tổ chức UNICEF thì hiện mới chỉ có 1/5 tổng số dân Việt Nam được hưởng nước sạch từ các nhà máy xử lý nước tập trung cung cấp đến các hộ gia đình bằng hệ thống đường ống [9]. Về việc cấp nước đô thị, ngay từ năm 2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2007/NĐ-CP về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch bao gồm các hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch trong các hệ thống cấp nước tập trung ở khu vực đô thị và nông thôn. 7 Tại thành thị tính đến cuối năm 2010, đã có 18,15 triệu người dân có thể tiếp cận được với nước sạch, chiếm 69% tổng số dân thành thị. Tỷ lệ phần trăm số dân sử dụng nước sạch ở các đô thị được thống kê như sau: 70% dân số ở đô thị đặc biệt và đô thị loại I, 45- 55% dân số ở đô thị loại II và III, 30-35% dân số ở đô thị loại IV và 10-15% dân số ở đô thị loại V.
Theo đó, lượng nước sử dụng trung bình của các đô thị là 80-90 lít/người/ngày đêm; trong đó tại các thành phố lớn thì lượng nước này là 120-130 lít/người/ngày đêm [9]. Theo báo cáo của Cục quản lý môi trường Y tế - Bộ Y tế. Hiện Việt Nam có 68 công ty cấp nước thực hiện cung cấp nước sạch cho các khu vực đô thị. Nguồn nước mặt chiếm 70% tổng nguồn nước cấp và 30% còn lại là nước ngầm.
Có hơn 420 hệ thống cấp nước với tổng công suất thiết kế đạt 5,9 triệu m3/ngày. Công suất hoạt động cấp nước đạt mức 4,5 triệu m3/ngày tương đương 77% công suất thiết kế. Trong đó, có 35 trong số 67 thành phố được khảo sát đảm bảo cấp nước liên tục 24 giờ/ngày. Hầu hết các thành phố còn lại chỉ hoạt động 14-20 giờ/ngày và có 3-4 thành phố chỉ có thể hoạt động 8-10 giờ/ngày [9].
Cũng theo báo cáo của Cục quản lý môi trường – Bộ Y tế chất lượng nước nhìn chung tại các nhà máy nước cấp cho các đô thị đạt tiêu chuẩn chất lượng nước cấp cho ăn uống theo QCVN 01:2009/BYT. Tuy nhiên, do chất lượng đường ống phân phối nước kém và tỷ lệ thất thoát, rò rỉ còn cao nước cấp đến hộ sử dụng thường không đảm bảo yêu cầu nước uống theo QCVN 01:2009/BYT mà chỉ đạt tiêu chuẩn chất lượng nước cấp cho sinh hoạt theo QCVN 02:2009/BYT. Do việc giảm nhanh áp lực trong hệ thống phân phối, nước chỉ có thể chảy vào các bể chứa nước dưới đất của các hộ gia đình mà không thể tự chảy lên các bể ở cao hơn. Hơn nữa, chất lượng nước cấp đến các hộ gia đình cũng không hoàn toàn đảm bảo theo tiêu chuẩn vệ sinh, mặc dù chất lượng nước thành phẩm tại các máy nước có thể đạt các chỉ tiêu của nước cấp.
Nguyên nhân là do nước được phân phối trong đường ống có áp lực thấp hay không có áp lực hay thậm chí có áp suất âm và các đấu nối bị hỏng. Những nguyên nhân trên khiến cho nước dễ dàng bị thấm nhiễm khi vận chuyển trong đường ống nước. Khi áp lực nước bên trong ống tăng cao đến mức đủ cho nước có thể tự chảy (lớn hơn 0,6m/s), những cặn bẩn lâu ngày trong hệ thống 8 ống có thể chảy lẫn trong ống và làm giảm chất lượng nước khi nước được cấp đến các hộ gia đình. Theo như kết quả khảo sát, hiện nay chỉ có khoảng 50% mạng lưới phân phối đạt tiêu chuẩn cấp nước sạch [9].
Hiện nay, dân số Việt Nam sống ở nông thôn có trên 60 triệu người, chiếm gần 69,4% số dân của cả nước [18]. Vì vậy, việc cấp nước cho nhu cầu ăn uống sinh hoạt ở nông thôn đang là một vấn đề cấp thiết. Trên thực tế, vùng nông thôn thiếu nước về số lượng và chất lượng nước dẫn đến sức khỏe của người dân chưa đảm bảo an toàn.