mở đầu, nội dung chính và kết luận, kèm theo danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, trong đó nội dung chính đƣợc chia thành 2 chƣơng. - Chƣơng 1 trình bày cơ sở lý luận về đội ngũ CBCĐCS. - Chƣơng 2 trình bày về cơ cấu đội ngũ CBCĐCS ngành CTM tại Hà Nội trong giai đoạn hiện nay- thực trạng, nguyên nhân và xu hƣớng biến đổi, trong đó chú trọng nghiên cứu phần thực trạng. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN HAI: NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 1.
Một số quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cán bộ và cán bộ công đoàn Xây dựng đội ngũ cán bộ vững vàng về chính trị, gƣơng mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn là chủ trƣơng và chính sách lớn trong nội dung công tác cán bộ của Đảng và Nhà nƣớc ta hiện nay trên cơ sở định hƣớng theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ. Vị trí của cán bộ và công tác cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định tầm quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ. Đại hội Đại biểu Đảng Toàn quốc lần thứ III nêu rõ: “Vấn đề cán bộ là vấn đề rất quan trọng” [18, 645]. Đại hội VI và VII đề ra yêu cầu: “Đổi mới cán bộ và công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và kế tục sự nghiệp cách mạng.
Đại hội VIII khẳng định: “Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, chuẩn bị tốt đội ngũ cán bộ kế cận, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực cán bộ” [16, 145]. Đại hội IX xác định tiếp tục “làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ nữ và cán bộ dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực” [17, 141]. Trƣớc những thời cơ và thách thức mới của tình hình trong nƣớc và quốc tế, Đảng ta đã xác định công tác cán bộ trong thời kỳ mới cần "đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ các khâu: đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dƣỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ", "Xây dựng và thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài"[14, 295-296]. Đối với Nhà nƣớc, cán bộ chính là rƣờng cột, quyết định tính hiệu quả của công việc bởi đó là những con ngƣời sử dụng lực lƣợng thực tiễn.
Họ cũng là những ngƣời tiên phong thực hiện chủ trƣơng, chính sách, pháp luật trong đời sống. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong lý luận cũng nhƣ trong thực tiễn hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt cán bộ ở vị trí quyết định. Theo ngƣời, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [26, 269]. Bác ví “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy.
Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt. Hồ Chủ tịch khẳng định: “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Có vốn mới làm ra lãi. Nhƣ vậy, Đảng, Nhà nƣớc và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhấn mạnh vị trí quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ.
Chất lƣợng cán bộ gắn với việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ. Tiêu chuẩn cán bộ Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: "Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tƣ duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lƣợng và cơ cấu hợp lý. Nhà nƣớc ta cũng rất chú trọng xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cán bộ bằng các văn bản pháp quy, tiêu biểu là Pháp lệnh cán bộ công chức.
Đối với CBCĐ, Nhà nƣớc cũng dành sự lƣu ý cụ thể, không chỉ trong lý luận mà cả trong hoạt động thực tiễn. Gần đây, khi tiếp 90 CBCĐCS tiêu biểu 2009, Phó Chủ tịch nƣớc Nguyễn Thị Doan cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, CBCĐCS nói riêng và CBCĐ nói chung cần hội tụ đủ 5 yêu cầu: biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của NLĐ; tôn trọng mọi sáng tạo, những tham mƣu về giải pháp, tình huống do NLĐ đƣa ra; dám nói lên quan điểm của mình trong giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền lợi của NLĐ; làm tốt công tác khen thƣởng và đặc biệt là phải biết đối mặt với thách thức. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến chất lƣợng CBCĐ. Theo Hồ Chí Minh, CBCĐ phải là ngƣời hiểu biết sản xuất, đời sống, nguyện vọng của công 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân, viên chức, phải hiểu chính sách của Đảng, phải hiểu về quản lí kinh tế khoa học kĩ thuật.
Cán bộ công đoàn “phải giỏi cả về chính trị, thạo về kinh tế” [46, 352] thì mới lãnh đạo đƣợc đội ngũ công nhân ngày càng phát triển lại có trình độ cả về tƣ tƣởng văn hoá, kĩ thuật. “Cán bộ phải cố gắng học tập văn hóa, chính trị, nghiệp vụ. “Muốn giáo dục tốt công nhân, trƣớc hết đội ngũ CBCĐ phải đoàn kết nhất trí’’ [46, 353], phải làm gƣơng cho công nhân noi theo. Tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn CBCĐ đến nay vẫn là định hƣớng quý báu cho việc xây dựng đội ngũ CBCĐ nƣớc ta.
Lý thuyết Xã hội học đặt cơ sở cho việc nghiên cứu 1. Lý thuyết cấu trúc-chức năng: Sự hình thành và phát triển của thuyết cấu trúc-chức năng có sự đóng góp của các nhà Xã hội học nhƣ A.v…Cho dù đi theo hƣớng nào, các tác giả theo lý thuyết này cũng chú trọng tính liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận cấu thành một chỉnh thể trong đó mỗi bộ phận có chức năng riêng đảm bảo duy trì chỉnh thể với tƣ cách là một cấu trúc tƣơng đối ổn định và bền vững. Mọi sự kiện, hiện tƣợng kể cả sự biến đổi của sự kiện, hiện tƣợng đó đều có thể đƣợc lý giải thông qua việc phân tích cấu trúc và mối liên hệ giữa các thành tố tạo ra nó. Comte quan tâm nghiên cứu quy luật duy trì sự ổn định của cấu trúc xã hội (tĩnh học xã hội), chỉ ra nguyên nhân của sự rối loạn cấu trúc là do các bộ phận tạo thành cấu trúc đó không phối hợp chặt chẽ với nhau.
Durkheim thì nghiên cứu chức năng và cấu trúc xã hội. Còn Spencer cho rằng sự biến đổi chức năng của các bộ phận kéo theo sự biến đổi cấu trúc của cả chỉnh thể xã hội. Pareto nhấn mạnh trạng thái cân bằng động có vai trò trong sƣ biến đổi cấu trúc xã hội. Brown thì coi cấu trúc xã hội là hình mẫu của các quan hệ xã hội hình thành và biến đổi trong điều kiện lịch sử cụ thể.
Parsons xem xét hệ thống trong một trục tọa độ ba chiều: chiều cấu trúc (hệ thống nào cũng có cấu trúc của nó), chiều chức năng (hệ thống luôn nằm trong trạng thái động, vừa tự biến đổi vừa trao đổi với môi trƣờng) và chiều kiểm soát (mọi hệ thống đều có khả năng điều khiển và tự điều khiển). Marx nhấn mạnh tính đối kháng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong hệ thống cơ cấu xã hội bao gồm các giai cấp, coi sự đấu tranh giữa các thành tố cơ cấu xã hội chính là động lực của sự biến đổi của xã hội. Dƣới cái nhìn của hệ thống lý thuyết này, chúng tôi xem xét cơ cấu đội ngũ CBCĐCS ngành CTM tại Hà Nội trong cả hai trạng thái tĩnh và động, trong một hệ thống hoàn chỉnh có sự tác động qua lại giữa các bộ phận của nó và trong quan hệ với môi trƣờng bên ngoài, không chỉ xem xét cơ cấu ở thực trạng mà còn tìm hiểu nguyên nhân và xu hƣớng biến đổi của nó ngõ hầu tìm ra giải pháp định hƣớng cho một sự chuyển dịch cơ cấu hợp lý và đồng bộ. Trong khi vận dụng lý thuyết cấu trúc-chức năng, tác giả quan tâm đến hƣớng nghiên cứu mạng lƣới xã hội-một cách tiếp cận mới với công cụ nghiên cứu đƣợc xây dựng trên 4 định đề cơ bản: Một là các cá nhân cá thể hoá trong các mối quan hệ; hai là các kinh nghiệm đƣợc sử dụng và mang ý nghĩa trong các hệ thống các mối quan hệ; ba là các mối quan hệ quyết định một phần các kinh nghiệm thực tế và các biểu hiện của nó và cuối cùng, nghiên cứu các mối quan hệ giúp ta hiểu đƣợc các hiện tƣợng xã hội.
Các phân tích bằng thuyết mạng lƣới xã hội xuất hiện lần đầu tiên năm 1954 trong bài viết của John A. Barnes, nhà xã hội học thuộc trƣờng phái Manchester, công bố trên tạp chí “Quan hệ con ngƣời”. Những tƣ tƣởng tiên phong xuất hiện trong triết học xã hội của Georg Simmel (đầu thế kỷ XX), tƣ tƣởng tâm lý xã hội của Moreno (đầu những năm 30), nhân học cấu chức chức năng của Radcliffe Brown, nhân học cấu trúc của Claude Levis-Strauss, ngôn ngữ học của Roman Jakobson và các lý thuyết toán học (đại số tuyến tính, ma trận và các lý thuyết về đồ thị). Đặc điểm về mặt cấu trúc của một mạng lƣới xã hội dựa trên các yếu tố: đặc điểm của mối quan hệ (loại tƣơng tác) định hƣớng-không định hƣớng, đối xứng-phi đối xứng, trực tiếp-gián tiếp, tính đồng nhất: sự tƣơng đồng về đặc điểm giữa các nhân tố trong mối quan hệ, sức mạnh của các quan hệ, tần xuất tƣơng tác v.
và đặc điểm của cấu trúc: kiểu quan hệ, mật độ của các mạng lƣới, khoảng cách giữa các thành viên trong mạng lƣới, những lỗ hổng cấu trúc v.v… Tác giả vận dụng hƣớng nghiên cứu này để giải thích các mối quan hệ xoay quanh cán bộ công đoàn cơ sở 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngành CTM, chủ yếu là quan hệ giữa CBCĐ với NLĐ và cán bộ quản lý, ảnh hƣởng của những quan hệ đó đối với việc thực hiện hoạt động của CBCĐ. Lý thuyết hành động xã hội: Hành động xã hội là một trong những nội dung đƣợc nhiều nhà Xã hội học quan tâm nghiên cứu, xây dựng lý thuyết, trong đó tiêu biểu là V. Mead và đặc biệt là Max Weber.