CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái quát chung về Hợp đồng tín dụng trong ngân hàng thương mại. Khái quát về Hợp đồng tín dụng. Khái niệm về Hợp đồng tín dụng.
Theo quy định tại Điều 463 BLDS 2015 thì "Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định". Đối với nghiệp vụ ngân hàng thì cho vay là một hình thức cấp tín dụng. Tại khoản 16 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010, có hiệu lực từ 01/01/2011 quy định: "Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi". Như vậy, có thể hiểu, “Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoán trả cả gốc và lại, dựa trên sự tín nhiệm".
Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS). Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng (TCTD), trong đó chủ yếu là các ngân hàng thương mại (sau đây gọi chung là ngân hàng). Đặc điểm của Hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng (HĐTD) là một dạng của hợp đồng vay, vì vậy nó cũng mang những đặc điểm của hợp đồng vay tài sản nói chung theo quy định của BLDS 2015.
Tuy nhiên, do hoạt động ngân hàng có những đặc thù so với các hoạt động kinh doanh khác nên HĐTD cũng có những đặc điểm riêng. Ngoài những đặc điểm chung của mọi loại hợp đồng, HĐTD còn có một số dấu hiệu đặc trưng sau đây để phân biệt với các loại hợp đồng khác trong giao dịch dân sự và thương mại. Trước hết, HĐTD luôn luôn phải được ký kết dưới hình thức văn bản và thường theo mẫu chung do Ngân hàng ban hành tương ứng với phương thức cho vay. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 463 BLDS 2015 thì HĐTD là loại hợp đồng song vụ.
Điều đó có nghĩa là trong HĐTD khi các bên đã thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ các trường hợp hoãn theo quy định của pháp luật. Ngoài ra: Về chủ thể: một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ điều kiện luật định, với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định. Về đối tượng: đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tiền (bao gồm tiền mặt và bút tệ).
Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng. Về mục đích: Hợp đồng tín dụng luôn nhằm mục đích sinh lời (hợp đồng có lãi suất). Trong giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng, tổ chức tín dụng thu lợi nhuận từ việc cho khách hàng vay tiền và thu các khoản lãi phát sinh theo hợp đồng vay. Khoản lợi thu được từ việc cho vay không chỉ nhằm mục đích bù đắp chi phí kinh doanh như: trả lãi tiền gửi, trả lương nhân viên…mà còn nhằm bù đắp những rủi ro có thể xảy ra cho tổ chức tín dụng và cũng có thể là rủi ro của người gửi tiền.
Vì vậy, việc thu hồi lợi nhuận không chỉ xuất phát từ lợi ích của tổ chức tín dụng mà còn xuất phát từ lợi ích của ngời gửi tiền và lợi ích của toàn xã hội. Về tính rủi ro: hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên cho vạy. Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định. Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn.
Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: trong HĐTD, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Do đo, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ với có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình. Phân loại Hợp đồng tín dụng *Căn cứ vào thời hạn vay - HĐTD ngắn hạn: Loại HĐTD này có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - HĐTD trung hạn: Loại HĐTD trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng.
Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định như: đầu tư mua máy móc trang thiết bị … 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - HĐTD dài hạn: là các khoản vay có thời hạn vay từ trên 60 tháng trở lên. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ, đầu tư vào các dự án đầu tư. Thời gian thu hồi vốn của các chủ thể có nhu cầu vay là tương đối lâu do các chủ thể này phải có thời gian kinh doanh lâu dài như: vay vốn để đầu tư xây dựng khách sạn để kinh doanh, xây dựng cơ sở sản xuất… *Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay. - HĐTD có bảo đảm bằng tài sản: là sự thỏa thuận giữa TCTD với khách hàng vay, theo đó TCTD cho khách hàng vay vốn với điều kiện phải có tài sản cầm cố, thế chấp của bên vay hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay.
- HĐTD không có đảm bảo bằng tài sản: là sự thỏa thuận cho khách hàng vay vốn không kèm theo điều kiện bên vay phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc được bảo lãnh bằng tài sản mà chỉ dựa vào uy tín khách hàng. *Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay. - HĐTD với mục đích vay vốn kinh doanh: đây là HĐTD mà trong đó các bên cam kết số tiền vay sẽ được bên vay sử dụng vào mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. - HĐTD với mục đích vay tiêu dùng: đây là HĐ TD mà trong đó các bên cam kết số tiền vay sẽ được bên vay sử dụng vào việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng như mua sắm đồ gia dụng, mua sắm nhà cửa.
*Căn cứ vào chủ thể ký kết. Dựa theo dấu hiệu chủ thể ký kết hợp đồng, có thể phân chia HĐTD thành: -HĐTD được ký kết giữa TCTD với cá nhân, hộ gia đình. - HĐTD được ký kết giữa TCTD với tổ chức kinh tế là pháp nhân (các doanh nghiệp, hợp tác xã, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, …) Ngoài các căn cứ để phân loại HĐTD như trên, thì theo các quy định của pháp luật một số nước trên thế giới còn phân loại HĐTD theo một số căn cứ khác. Có thể thấy, việc phân loại HĐTD không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn cả về thực tiễn.
Trên cơ sở phân loại HĐTD, các nhà làm luật có thể xây dựng những quy chế cho vay phù hợp hơn với hoạt động của các TCTD nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng. Khái quát về Hợp đồng tín dụng trong ngân hàng thương mại. Khái niệm ngân hàng thương mại. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 thì: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, có thể hiểu, ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế chuyên thực hiện các hoạt động trong ngân hàng về các lĩnh vực cung cấp tiền tệ, dịch vụ tài chính giữa khách hàng và ngân hàng hoặc ngược lại. Các hoạt động trong ngân hàng như: huy động nguồn vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại chủ yếu là nhận tiền gửi và cho vay vốn đầu tư. Tuy nhiên cũng có những thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của khách hàng, khoa học kỹ thuật kinh tế và xã hội.
Nhờ có các ngân hàng thương mại mà các chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước được thực hiện một cách nhanh chóng và kịp thời hơn, từ đó việc kiểm soát các hoạt động của các doanh nghiệp được dễ dàng, theo đúng luật pháp hơn. Khái niệm Hợp đồng tín dụng trong ngân hàng thương mại. Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng (TCTD), trong đó chủ yếu là các ngân hàng Hợp đồng tín dụng (HĐTD) trong ngân hàng thương mại chính là hợp đồng cho vay của ngân hàng thương mại.
Theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp tín dụng.