MỞ ĐẦU PHẦN 2: LÝ THUYẾT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KÊ KHAI VÀ NỘP THUẾ GIÁ TRỊ TĂNG PHẦN 3: HOẠT ĐỘNG KÊ KHAI VÀ NỘP THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN 3 PHẦN 4: GIẢI PHÁP PHẦN 5: KẾT LUẬN 2 PHẦN 2: LÝ THUYẾT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KÊ KHAI VÀ NỘP THUẾ GIÁ TRỊ TĂNG 2.1 Khái quát về thuế giá trị gia tăng 2.1 Lịch sử hình thành thuế giá trị gia tăng Trên thế giới thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu, đây là loại thuế ra đời khá muộn so với các thuế khác, Pháp là nước đầu tiên trên thế giới áp dụng loại thuế này vào năm 1917. Thời kỳ đầu thuế doanh thu chỉ tính vào giai đoạn cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hóa với thuế suất rất thấp. Sau một thời gian áp dụng đến đầu năm 1920 thuế doanh thu điều chỉnh sang đánh vào từng giai đoạn của quá trình sản xuất nhưng thực tế sự điều chỉnh này đã gây ra nhiều nhược điểm nổi bật nhất là sự trùng lặp, đặc biệt có thể nhận thấy khi hàng hóa lưu thông qua càng nhiều giai đoạn sản xuất thì thuế sẽ càng cao điều này ảnh hưởng lớn đến sức mua của người dân. Sau nhiều lần sửa đổi và bổ sung thì vẫn còn nhiều nhược điểm tồn tại như sự chồng chéo, trùng lặp trong việc tính thuế.
Đến năm 1954 Pháp ban hành thuế giá trị gia tăng với tên gọi là La Taxesur La Valeur Ajoutée (TVA) và có tên tiếng anh đầy đủ là Valued Aded Tax (VAT), việc ban hành thuế giá trị tăng đã hạn chế việc thu thuế chồng chéo trước đó cho đến nay loại thuế này đã được áp dụng trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ1 Ở nước ta tiền thân của thuế giá trị gia tăng là thuế doanh thu. Năm 1990 Quốc hội ban hành luật thuế doanh thu áp dụng đối với mọi chủ thể có hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng vẫn còn tồn tại nhược điểm lớn đó là gây ra hiện tượng thuế chồng thuế, để khắc phục được khuyết điểm này việc ban hành thuế GTGT là một bước tiến mới trong ngành thuế nước ta. Do đây là một sắc thuế mới ra, nên 1 Nguồn: Ruud de mooij and Michael Keen (2012) “Fiscal Devaluation” and Fiscal Consolidation. The VAT in Troubled Times” IMF Working Paper.
3 trải qua một thời gian dài nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn ta đã nhận thấy được những ưu điểm của loại thuế này so với thuế doanh thu trước đó. Ngày 10/5/1997 Quốc hội đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực vào ngày 01/01/1999. Sau đó thuế giá trị gia tăng được sửa đổi lần đầu vào năm 2003. Đến năm 2005 Luật sửa đổi của Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thuế giá trị gia tăng được Quốc hội thông qua 29/11/2005, trải qua hai lần sửa đổi và bổ sung Luật thuế giá trị gia tăng vẫn còn bộc lộ những hạn chế cần khắc phục.
Cho đến năm 2008, Quốc hội đã ban hành Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 để thay thế cho Luật thuế giá trị gia tăng 1997. Từ đó đến nay pháp luật về thuế giá trị gia tăng không ngừng được hoàn thiện và phát triển để phù hợp hơn so với thực tiễn.2 Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Để phân biệt được thuế giá trị gia tăng với các loại thuế khác ta có thể thông qua các đặc điểm cụ thể sau: Thứ nhất, đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam. Có thể thấy hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, cung ứng và lưu thông trên lãnh thổ Việt Nam đều là đối tượng chịu thuế GTGT. Kể cả đó là hàng hóa do thương nhân Việt Nam sản xuất hay do thương nhân nước ngoài sản xuất được lưu thông trong lãnh thổ Việt Nam thông qua hình thức nhập khẩu thì cũng đều là đối tượng chịu thuế2.
Thứ hai, thuế GTGT đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ. Việc chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ là điểm khác biệt so với thuế doanh thu. Nếu trong quá trình lưu thông hàng hóa không gia tăng giá trị thì hàng hóa đó không phải chịu thuế GTGT. Vì vậy, việc xác định giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ là để bảo vệ quyền lợi của mình và khuyến khích các chủ thể tự kiểm soát lẫn nhau trong việc nộp thuế.
2 Không bao gồm đối tượng không chịu thuế được quy định tại Điều 5, Luật thuế giá trị gia tăng 2008, sửa đổi và bổ sung 2013. 4 Thứ ba, thuế giá trị gia tăng là thuế gián thu. Thuế giá trị gia tăng đánh vào giá trị gia tăng từ quá trình sản xuất đến tiêu thụ của hàng hóa dịch vụ. Người nộp thuế là người bán hàng hóa, dịch vụ; người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng.3 Vai trò của thuế giá trị gia tăng Thuế là công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lí nền kinh tế vĩ mô của quốc gia mình.
Thay đổi chính sách thuế sẽ tạo ra những tác động lớn đến nền kinh tế, qua thời gian áp dụng thuế GTGT đã thể hiện được những vai trò lớn sau: Thứ nhất, thuế GTGT đã giảm sự bất cập, thuế chồng thuế so với thuế doanh thu. Thuế giá trị gia tăng chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ qua từng khâu sản xuất, ngược lại thuế doanh thu đánh thuế lên toàn bộ doanh thu phát sinh qua mỗi lần chuyển dịch. Như vậy hàng, hóa qua càng nhiều khâu thì thuế sẽ càng cao. Thuế GTGT đã giúp loại bỏ việc thuế chồng thuế, giảm giá thành sản phẩm, kích thích đầu tư, phát triển sản xuất và tiêu dùng nâng cao hiệu quả kinh tế trong nước, phù hợp với nền kinh tế thị trường.
Thứ hai, mang lại nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN. Vì đây là thuế gián thu, có phạm vi tác động rộng đến mọi đối tượng sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Đồng thời thuế giá trị gia tăng được thu theo từng khâu, khâu sau kiểm tra việc nộp thuế ở khâu trước. Do đó thuế GTGT đảm bảo nguồn thu của ngân sách nhà nước tránh việc thất thu ngân sách và trốn thuế.
Thứ ba, thuế GTGT thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn, chứng từ trong giao dịch thương mại. Nếu các chủ thể kinh doanh không sử dụng hóa đơn, chứng từ theo quy định thì cơ quan thuế sẽ không thực hiện việc khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế giá trị gia tăng. Thứ tư, khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông qua việc áp thuế suất 0%. Điều này không những giúp giá thành của sản phẩm trong nước được giảm mà còn tạo ra sức cạnh tranh về giá đối với hàng hóa, dịch vụ trên thị trường quốc tế.
Kể từ khi thuế GTGT được ban hành, Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn, sửa đổi và bổ sung nhằm 5 hoàn thiện và hạn chế những bất cập còn tồn tại của thuế GTGT. Trong giai đoạn 2016 – 2019, tỷ trọng thu từ thuế giá trị gia tăng so với tổng thu NSNN tăng nhanh và trở thành nguồn động viên ngân sách quan trọng nhất hiện nay, đạt trung bình 24,3%. Cao hơn so với 22,36% trong giai đoạn 2006 - 20103. Như vậy thuế GTGT càng khẳng định được vai trò quan trọng và tính ưu việt trong nền kinh tế hiện nay.2 Đối tượng chịu thuế và người nộp thuế giá trị gia tăng 2.1 Đối tượng chịu thuế Đối tượng chịu thuế GTGT được quy định tại Điều 3 Luật thuế giá trị gia tăng 2008 (sửa đổi và bổ sung 2013), đồng thời hướng dẫn tại Thông tư 219/2013/TT-BTC theo đó “Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của luật này.” Ta thấy, đối tượng chịu thuế của thuế GTGT là các hàng hóa, dịch vụ chịu sự tác động từ hoạt động sản xuất; kinh doanh; hoặc tiêu dùng tại lãnh thổ Việt Nam.
Bao gồm hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng tại Việt Nam hoặc có từ hoạt động nhập khẩu và tiêu dùng tại Việt Nam. Sở dĩ có điều này là vì thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế. Cho nên trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ nào phát sinh phần giá trị tăng thêm thì hàng hóa, dịch vụ đó chính là đối tượng chịu thuế GTGT theo pháp luật quy định. Tuy nhiên không phải hàng hóa, dịch vụ nào qua quá trình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng phát sinh GTGT đều là đối tượng chịu thuế.
Theo quy định của Điều 5, Luật thuế giá trị gia tăng 2008 có 25 trường hợp hàng hóa, dịch vụ không 3 Nguồn: Bộ Tài Chính Việt Nam. Kết quả thực hiện thu ngân sách nhà nước theo Chiến lược Tài chính đến năm 2020 https://mof.vn/webcenter/portal/tttc/r/o/nctd/nctd_chitiet?dDocName=MOFUCM174682&_afrLoop= 18516574351000#%40%3F_afrLoop%3D18516574351000%26dDocName%3DMOFUCM174682%26_ adf.ctrl-state%3D2b5ct8n80_80 6 là đối tượng của thuế GTGT. Căn cứ về lí do không đánh thuế thì có thể phân làm 25 trường hợp hàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT, được chia làm các nhóm: Nhóm 1: Nhóm hàng hóa được Nhà nước khuyến khích sản xuất kinh doanh và tiêu dùng như: Các sản phẩm trồng trọt, giống vật nuôi, tưới, tiêu nước và các sản phẩm muối được sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i- ôt mà thành phần chính là Natri clorua (NaCl). Nhóm 2: Bao gồm các hàng hóa, dịch vụ mà nếu chịu thuế thì không thực hiện mục đích điều tiết của thuế do người nộp thuế chính là nhà nước.
Nhóm 3: Các hàng hóa, dịch vụ phát sinh giá trị gia tăng hoặc không thể xác định được giá trị gia tăng. Nhóm 4: Nhóm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho mục đích công cộng, mục đích nhân đạo cần khuyến khích phát triển. Nhóm 5: Hàng hóa, dịch vụ không tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam. Nhóm 6: Các trường hợp còn lại.2 Người nộp thuế giá trị gia tăng “Người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu).