CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ HỘ KINH DOANH 1. Những vấn đề chung về thuế 1. Khái niệm về thuế Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về thuế như: Theo Nguyễn Thị Bất (2002) cho rằng: “Thuế là nghĩa vụ của thể nhân và pháp nhân đối với Nhà nước và phát sinh từ các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, thuế không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do con người quy định nên, có mối liên hệ chặt chẽ với các phạm trù Nhà nước và pháp luật.” [19] Vũ Cương (2012) định nghĩa: “Thuế là một khoản phí tài chính bắt buộc hoặc một số loại thuế khác áp dụng cho người nộp thuế (một cá nhân hoặc pháp nhân) phải trả cho một tổ chức chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công khác nhau.” [7] Theo Điểm 1 Điều 3 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 định nghĩa như sau: Thuế là một khoản nộp ngân sách Nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế” [12] Theo tác giả định nghĩa về thuế như sau: "Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải nộp theo luật định của Nhà nước; Không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các khoản chi tiêu công cộng.
Đặc điểm của thuế Thuế có những đặc điểm cơ bản sau: 1. Thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách Theo quy định trên có ý nghĩa là, dù khoản thuế đó được nộp dưới hình thức nào thì thuế cũng mang tính chất bắt buộc và được thi hành thông qua 8 con đường quyền lực Nhà nước (thông qua hệ thống quy định pháp luật về quản lý thuế). Vì vậy, người nộp thuế có nghĩa vụ chấp hành các quy định mang tính chất pháp luật khi kê khai, đăng ký và nộp thuế. Người nộp thuế không được tự ý xác lập, sửa đổi mức thuế suất mà phải chấp hành mức thuế suất và nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật.
Những người nộp thuế vi phạm pháp luật quản lý thuế, sẽ bị cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hoặc cưỡng chế hành chính theo quy định của pháp luật quản lý thuế và các quy định pháp luật khác có liên quan. Đồng thời bắt buộc họ phải thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Đây là điểm phân biệt giữa thuế với các khoản đóng góp có tính chất khác. Tính không hoàn trả trực tiếp Nội dung nay có nghĩa là, thuế là một nguồn thu không có tính đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được hiểu đơn giản là: Khác với khoản tín dụng, thuế không hoàn trả trực tiếp đến người nộp thuế (trái lại, một khoản thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản viện trợ hoặc thông qua các phương tiện công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp được thực hiện vào thời kỳ ban đầu ngay từ khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Trước khi thực hiện thu thuế, Nhà nước không thực hiện hoàn trả trực tiếp một dịch vụ cụ thể tới người nộp thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp một khoản thuế nào của người nộp thuế.
Việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do không sử dụng được dịch vụ công cộng không khiến người nộp thuế không thể phản đối. Người nộp thuế không có nghĩa vụ để được dùng thêm dịch vụ công cộng này khác nhau với khoản thuế họ đã nộp với lý do kia dù là lý do chính đáng. Đồng thời, người nộp thuế không thể nào từ chối nộp thuế với lý do họ đã tự nguyện nộp thuế, 9 lệ phí thông qua bất kỳ dịch vụ mà họ được cung ứng. Có thể nói rằng, thuế được thu nhằm phục vụ mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, thuế không có đối khoản cụ thể.
Điều này có ý nghĩa rằng, Nhà nước không được phép gắn với nhu cầu chi tiêu cụ thể hoặc thay thế với khoản thu của các loại thuế. Tất cả các khoản thu thuế phải được dành để bảo đảm nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước đối với hoạt động thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước. Ngày nay, khái niệm "chi tiêu chính phủ" không chỉ hiểu theo nghĩa đơn thuần là bao hàm những chi tiêu gắn với chức năng quản lí của Nhà nước nhằm thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước mà chi tiêu của chính phủ còn bao hàm cả chức năng kinh tế - xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu thuật ngữ thuế đòi hỏi cần xem xét vấn đề ở hai khía cạnh.
Thuế là công cụ tạo khoản thu nhằm thỏa mãn các chi tiêu của quốc gia, mặt khác là công cụ để quốc gia thực hiện được các mục đích về kinh tế - xã hội đảm bảo tính ổn định.3 Tính định trước trong pháp luật và tính pháp lý cao - Các khoản nộp thuế và mức nộp thuế đã được quy định cụ thể trong luật thuế và các văn bản có liên quan. Đòi hỏi tất cả các đối tượng chịu thuế phải thực hiện theo đúng quy định. Vấn đề này được quyết định bởi quyền lực của Nhà nước. Để yêu cầu các đối tượng chịu thuế, tự giác nộp thuế thì Nhà nước phải dùng đến quyền lực của Nhà nước, quyền lực đó được thực hiện bằng hệ thống pháp luật mà Nhà nước ban hành.
Tuy nhiên, việc thu thuế của Nhà nước không hoàn toàn mang tính chất ép buộc, pháp luật nêu rõ các yếu tố điều tiết hành vi nộp thuế bao gồm: Ai là người nộp thuế, ai là đối tượng chịu thuế, số thuế phải nộp cùng các điều khoản liên quan. Các biện pháp trừng phạt bắt buộc khác, nếu không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. - Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền. Theo các hình thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ.
Điều này hoàn toàn khác với hình thức nộp thuế bằng hiện 10 vật đã tồn tại trong lịch sử nhân loại. - Luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước. Thuế là nghĩa vụ căn bản của công dân đã được qui định cụ thể tại hiến pháp và pháp luật của từng quốc gia. Mặt khác, quyền lực của Nhà nước được biểu hiện qua việc Nhà nước không thu thuế một cách tùy ý mà chỉ căn cứ trên những cơ sở pháp luật cụ thể đã nêu tại từng văn bản qui định pháp luật của cấp có thẩm quyền ban hành.
Vì vậy, công dân không có quyền từ chối đóng thuế hay không hay chấp nhận đối với khoản thu của Nhà nước mà chỉ có quyền tuân thủ theo. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của thuế, để phân biệt chúng với toàn bộ các phương thức đóng góp nguồn lực khác cho ngân quỹ quốc gia. - Luôn đi kèm với thu nhập: Nhà nước thu thuế bằng việc phân bổ lại tất cả hàng hóa quốc dân và thu nhập quốc dân, do đó một phần lớn thu nhập của người nộp thuế sẽ chuyển giao về Nhà nước mà không phải chịu bất kỳ phí tổn nào khác hoặc bất kỳ quyền lợi khác đối với người nộp thuế. Chức năng và vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường 1.
Chức năng của thuế Nội dung các chức năng được phân tích cụ thể như sau: - Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Mức độ đóng góp nguồn thu qua thuế vào ngân sách chủ yếu dựa trên mức chi tiêu của chính phủ. Bởi vậy, thuế là nguồn thu chính nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách. Nhưng các nguồn thu ngoài thuế không phải là nguồn thu duy nhất. Bên cạnh ra, tình trạng thiếu hụt ngân sách cũng được khắc phục thông qua nguồn thu từ thị trường trái phiếu, phát hành tiền.
Mức độ một quốc gia huy động nguồn thu tài chính và tỷ lệ thâm hụt tài chính trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cho thấy mức độ quốc gia đó huy động để bù đắp các khoản chi tiêu này (tất nhiên bao gồm cả lãi trả cho việc trả nợ). Đây là chức năng đầu tiên của thuế tồn tại theo lịch sử, chức năng điều 11 tiết hay bảo đảm nguồn thu cho NSNN là chức năng cơ bản, phản ánh nguyên nhân sự tồn tại và trưởng thành của thuế. Thông qua chức năng này các định chế tài chính tập trung của Nhà nước đã hình thành nhằm đảm bảo sự hình thành nền tảng tài chính đảm bảo sự tồn tại và phát triển trong hoạt động của Nhà nước. Đây là chức năng đảm bảo yếu tố khách quan cho phép Nhà nước thực hiện phân phối, tái phân phối tổng sản phẩm quốc dân.
Khi sứ mệnh của chính phủ phát triển và mở rộng, nhu cầu chi tiêu của chính phủ cũng tăng lên. Do đó, chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN của thuế ngày càng được nâng cao và giữ vai trò chủ đạo. Nhờ thuế mà tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia được tập trung vào NSNN. Đồng thời, thuế trở thành nguồn thu có tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu NSNN của tất cả các quốc gia trong nền kinh tế thị trường.
- Chức năng phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảo công bằng xã hội Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách công bằng; thuế phải thể hiện được vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu trong thu nhập. Từ đó, đảm bảo sự công bằng và bình đẳng trong xã hội. Tuy nhiên, sự công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế chỉ mang tính chất tương đối và phù thuộc vào quan niệm cho rằng “sự phân phối phải công bằng hay không trong việc phân chia quyền sở hữu diễn ra trên thị trường”. Chính vì lý do này, việc đánh thuế lũy tiến, đối với một số người, đặc biết là biểu thuế thu nhập cá nhân hiện nay.
Đây là một trong những nội dung có thể được coi như đồng nghĩa với sự công bằng. Tuy nhiên, một so quan điểm của người khác thì cho vấn đề này mang tính tùy tiện. - Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế.