Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ 1. Luật sư và pháp luật về luật sư 1. Khái niệm luật sư Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân luật sư. Phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là nhân tố quyết định trong hoạt động hành nghề luật sư.
Người muốn hành nghề luật sư phải được công nhận là luật sư, đó là quy định chung mà pháp luật về luật sư của các nước trên thế giới đều quy định. Tuy vậy qua nghiên cứu pháp luật về luật sư của nhiều nước trên thế giới như: Hoa Kỳ, Nhật bản, Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc.không thấy đưa ra khái niệm luật sư mà chỉ quy định tiêu chuẩn để trở thành luật sư. Tiêu chuẩn phổ biến để trở thành luật sư là: công dân ở nước sở tại, có bằng cử nhân luật, có phẩm chất đạo đức tốt. Ngoài các tiêu chuẩn trên người muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề, tập sự hành nghề luật sư hoặc chỉ cần thi đỗ kỳ thi quốc gia để được công nhận luật sư (tùy vào quy định pháp luật của từng nước) thẩm quyền công nhận luật sư có thể do Tòa án tối cao hay Bộ Tư pháp hoặc chỉ cần đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư thì trở thành luật sư, xin dẫn ra quy định tại một số nước như: Ở Hoa Kỳ muốn trở thành luật sư chỉ cần qua một kỳ thi Quốc gia mà không phải qua đào tạo nghề và tập sự hành nghề luật sư.
Tòa án Bang là cơ quan có thẩm quyền công nhận luật sư và cho phép hành nghề luật sư. [58] Ở Nhật bản người muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề (không phải qua tập sự hành nghề) và phải đăng ký vào danh sách luật sư của Liên Đoàn luật sư Nhật Bản tại một Đoàn luật sư địa phương. [58] Ở Anh người muốn công nhận luật sư phải qua hai giai đoạn đào tạo nghề (đào tạo hành nghề và đào tạo kỹ năng hành nghề) Hiệp hội luật sư cấp giấy công nhận luật sư. [58] 7 Ở Pháp người muốn hành nghề luật sư phải qua một khóa đào tạo nghề và phải tập sự hành nghề luật sư sau đó đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư là trở thành luật sư.
Trước khi trở thành luật sư phải tuyên thệ trước một Tòa án. [58] Ở Trung Quốc người muốn được công nhận đủ tiêu chuẩn luật sư phải thi đỗ kỳ thi Quốc gia, Bộ Tư pháp là cơ quan nhà nước thực hiện công nhận đủ tiêu chuẩn luật sư cho người thi đỗ. Chứng chỉ hành nghề luật sư được cấp cho người đã được công nhận đủ tiêu chuẩn luật sư; đã qua tập sự hành nghề một năm, có phẩm chất đạo đức tốt, chứng chỉ hành nghề luật sư do Sở Tư pháp cấp tỉnh trực thuộc trung ương cấp. [58] Từ các quy định pháp luật về luật sư của một số nước trên thế giới khái niệm luật sư được hiểu là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận là luật sư.
Ở Việt Nam chế định luật sư và hành nghề luật sư đã hình thành từ thời Pháp thuộc. Tư sau năm 1945 chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành một số văn bản pháp luật về luật sư, tạo hành lang pháp lý cho các luật sư hoạt động hành nghề. Tuy nhiên không có văn bản pháp luật nào quy định làm rõ khái niệm luật sư và hành nghề luật sư. Năm 1987 (18/12/1987) nhà nước ta ban hành pháp lệnh tổ chức luật sư đầu tiên, đưa chế định luật sư ở nước ta đến gần với thông lệ quốc tế, đánh dấu bước ngoặt quan trọng của đội ngũ luật sư chuyên nghiệp trong nước.
Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 không đưa ra định nghĩa, khái niệm về luật sư mà chỉ quy định muốn làm luật sư thì phải đủ điều kiện và gia nhập Đoàn luật sư. Việc gia nhập Đoàn luật sư phải được hội nghị toàn thể Đoàn luật sư thông qua theo đề nghị của ban chủ nhiệm. Người mới gia nhập Đoàn luật sư phải qua thời gian tập sự sáu tháng đến hai năm và một kỳ kiểm tra do Đoàn luật sư tổ chức mới được công nhận là luật sư (điều 12 pháp lệnh luật sư năm 1987). Người được công nhận luật sư được cấp thẻ luật sư, thẻ luật sư do ban chủ nhiệm cấp cho các luật sư (điểm 4 mục II thông tư 313- TT/LS ngày 15 tháng 4 năm 1989 của Bộ Tư pháp, hướng dẫn thi hành quy chế đoàn luật sư).
8 Như vậy theo quy định của pháp lệnh tổ chức luật sư thì một người muốn được công nhận là luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư. Thẩm quyền công nhận luật sư hay chấp nhận gia nhập Đoàn luật sư thuộc hội nghị toàn thể đoàn luật sư, thẻ luật sư là giấy tờ chứng minh một người là luật sư, được sử dụng khi hành nghề và sinh hoạt của Đoàn luật sư. Năm 2001 nhà nước ban hành pháp lệnh luật sư thay thế pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987, lần đầu tiên khái niệm luật sư được đặt ra. Điều 1 pháp lệnh luật sư năm 2001 quy định: “Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề luật sư”.
Điều 7 Pháp lệnh Luật sư quy định: “Người muốn được hành nghề luật sư phải gia nhập một Đoàn luật sư và có Chứng chỉ hành nghề luật sư” mà không quy định về tiêu chuẩn luật sư thủ tục và thẩm quyền công nhận luật sư. Người được gia nhập Đoàn luật sư để trở thành luật sư phải qua tập sự và kỳ kiểm tra hết tập sự và nếu đạt yêu cầu thì được Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư đề nghị Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề luật sư (điều 13 pháp lệnh luật sư). Khoản 4 điều 13 pháp lệnh luật sư năm 2001 quy định: “Người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư được hành nghề với đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của luật sư” trong đó có quyền hành nghề luật sư. Theo quy định tại điều 29 Nghị định 94/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 của chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Luật sư thì thành viên của các Đoàn luật sư là các luật sư và được Ban chủ nhiệm cấp thẻ.
Thẻ luật sư là giấy chứng nhận tư cách thành viên Đoàn luật sư của người được cấp thẻ. Như vậy chứng chỉ hành nghề luật sư do Bộ tư pháp cấp là giấy tờ xác nhận tư cách luật sư, là giấy chứng nhận của Nhà nước về quyền hành nghề luật sư của người được cấp chứng chỉ. Như vậy, theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 thì luật sư là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành ngề luật sư. Chứng chỉ hành nghề luật sư là giấy tờ chứng minh một người là luật sư và luật sư sử dụng khi hành nghề; Thành viên Đoàn luật sư là các luật sư được Ban chủ nhiệm cấp thẻ luật sư, thẻ luật sư được sứ dụng trong sinh hoạt ĐLS.
9 Năm 2006 Luật luật sư được Nhà nước ban hành (thay thế các pháp lệnh và sắc lệnh về luật sư đã ban hành trước đây) khái niệm luật sư được quy định tại điều 2 như sau: “luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của luật này, thực hiện dịch vụ Pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)”. Để làm rõ tiêu chuẩn quy định tại điều 2, điều 10 Luật luật sư quy định tiêu chuẩn luật sư như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và Pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư”. Về khái niệm luật sư quy định tại Luật luật sư năm 2006 hiện tại đang có nhiều cách hiểu khác nhau, tập trung vào 3 nhóm quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng theo quy định tại điều 2 Luật luật sư thì có thể hiểu luật sư là người có chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư nhưng phải thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng; lý giải của quan điểm này thì một người cho dù đã được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư thì vẫn không được gọi là luật sư, chỉ được gọi luật sư khi một người có chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư và cung cấp dịch vụ Pháp lý cho khách hàng. Thực tế hiện nay có nhiều người có chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư nhưng họ không hành nghề trong văn phòng luật sư hay công ty luật, hoặc không hành nghề với tư cách cá nhân thì không thể nói rằng họ không phải là luật sư; với nội dung quy định tại điều 2 Luật luật sư thì đây là quy định “ hành nghề luật sư ” hay “ hoạt động luật sư ” chứ chưa hoàn toàn quy định về luật sư.
Quan điểm thứ 2 cho rằng khái niệm luật sư và điều kiện hành nghề luật sư có nội dung trùng nhau và đề nghị quy định khái niệm luật sư theo hướng luật sư là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Pháp luật và được cơ quan Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề; khi luật sư đủ tiêu chuẩn theo luật quy định, được cơ quan Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề luật sư thì có quyền hành nghề và đăng ký hoạt động mà không nhất thiết phải gia nhập một Đoàn luật sư. Theo quan điểm này thì 10 luật sư là người đủ tiêu chuẩn theo quy định tại điều 10 Luật luật sư và được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Quan điểm thứ 3 cho rằng luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề luật sư, có nghĩa là được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư thì mới được gọi là luật sư và như vậy giấy tờ xác nhận một người là luật sư là thẻ luật sư. Bởi vì phải có chứng chỉ hành nghề luật sư thì mới được gia nhập Đoàn luật sư và mới được cấp thẻ luật sư.
Hiện nay ở nước ta có tình trạng số người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư nhiều hơn số người được cấp thẻ luật sư bởi vì đã có nhiều người đã được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề luật sư nhưng không gia nhập Đoàn luật sư vì nhiều lý do khác nhau.