CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ 1. Khái niệm, đặc điểm vai trò của thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở 1. Hòa giải ở cơ sở và pháp luật về hòa giải ở cơ sở Trong thực tế đời sống xã hội, tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức là điều khó tránh khỏi. Những tranh chấp này có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau và cũng có tính chất, mức độ khác nhau.
Các bên khi vướng vào tranh chấp đều muốn mình đạt được những mục tiêu mong muốn (muốn được xử thắng kiện, muốn được đền bù thỏa đáng. Nếu phải giải quyết tranh chấp theo hướng khởi kiện và phải theo đuổi những vụ kiện dai dẳng, tốn kém là điều không ai muốn. Đối với người dân Việt Nam vốn là một dân tộc coi trọng tình cảm thì điều này đưa đến một tâm lý rất nặng nề. Vì vậy, nhu cầu hòa giải ngay từ cơ sở các tranh chấp xuất hiện như một yêu cầu khách quan.
Từ trước đến nay có khá nhiều quan niệm về hòa giải. Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thì hòa giải là:“thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa”. Trong khoa học pháp lý, hòa giải thường được quan niệm là bên thứ ba, căn cứ vào các quy định pháp luật phân tích, tư vấn để hai bên xung đột, tranh chấp chấp nhận một phương án giải quyết vụ việc và không theo đuổi phương án khởi kiện nữa. Hòa giải ở cơ sở là một hình thức hòa giải ngoài tố tụng, trong đó, bên thứ ba, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, phong tục tập quán, đạo đức cộng đồng, phân tích, hướng dẫn, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau để chấm dứt những tranh chấp nhằm giữ gìn đoàn kết trong cộng đồng dân cư.
Dưới giác độ pháp luật thì Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định: “Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự 7 nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này” [Điều 2]. Nghị định số 15/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã xác định: Hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật sau đây: - Mâu thuẫn giữa các bên; - Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự; - Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình; - Vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính; - Một số vi phạm pháp luật hình sự; - Vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; - Những vụ, việc khác mà pháp luật không cấm. Như vậy, pháp luật về hòa giải ở cơ sở chính là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về nguyên tắc, chủ thể và nội dung của hoạt động hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết các tranh chấp nhỏ, qua đó củng cố tình đoàn kết, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự trong cộng đồng dân cư. Thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở Theo cách tiếp cận truyền thống thì thực hiện pháp luật là hành vi của một chủ thể tiến hành, phù hợp với những quy định và yêu cầu của pháp luật.
Thực hiện pháp luật bao gồm bốn hình thức: Sử dụng pháp luật, tuân thủ pháp luật, thi hành (chấp hành) pháp luật, áp dụng pháp luật. Trên thực tế, chúng ta thấy, hòa giải ở cơ sở là một hình thức hòa giải ngoài tố tụng. Mục đích của hòa giải ở cơ sở là cố gắng để các bên hình dung được mối quan hệ lợi - hại, hơn - thiệt, lâu dài - trước mắt. Vì vậy, quá trình tiến hành hòa giải, các hòa giải viên phải hết sức khéo léo, tâm lý và linh hoạt mới có thể đạt được mục đích đề ra.
8 Như vậy, thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở là những hoạt động đưa các quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở đi vào thực tế cuộc sống, chuyển hóa các quy định từ trên văn bản thành hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể nhằm giải quyết tranh chấp nhỏ trong nhân dân. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở Hòa giải ở cơ sở là một phương thức quan trọng để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong đời sống cộng đồng. Đây là hoạt động mang đậm tính nhân văn, văn hóa và phù hợp với đặc thù của xã hội Việt Nam. Thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở có các đặc điểm sau Thứ nhất, thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở dựa trên nguyên tắc tự nguyện.
Chủ thể thực hiện bao gồm hòa giải viên và các bên mâu thuẫn. Hòa giải viên giữ vai trò hỗ trợ, định hướng, còn các bên mâu thuẫn phải chủ động tham gia và hợp tác để tìm ra giải pháp tối ưu. Thứ hai, thực hiện hòa giải ở cơ sở là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc. Nó không chỉ giới hạn ở việc giải quyết mâu thuẫn giữa các cá nhân mà còn gắn bó chặt chẽ với văn hóa, đạo đức, phong tục tập quán của cộng đồng.
Hòa giải viên thường là những người có uy tín tại địa phương, hiểu rõ về môi trường xã hội, văn hóa cũng như phong tục, từ đó giúp nâng cao hiệu quả của việc thực hiện pháp luật trong thực tế. Thứ ba, không bị ràng buộc bởi các quy trình pháp lý cứng nhắc như trong hệ thống tư pháp. Điều này giúp quá trình hòa giải mang tính linh hoạt cao, phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh thực tế của từng trường hợp tranh chấp. Trong quá trình hòa giải, pháp luật không phải lúc nào cũng là yếu tố duy nhất được áp dụng.
Hòa giải viên có thể kết hợp pháp luật với các yếu tố đạo đức, tình cảm, phong tục để đảm bảo một giải pháp toàn diện và hợp lý. Thứ tư, thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở không chỉ giải quyết các mâu thuẫn riêng lẻ mà còn hướng đến mục tiêu lớn hơn là duy trì sự ổn định và đoàn kết trong cộng đồng. Hoạt động hòa giải giúp giảm tải đáng kể cho hệ thống tư pháp, hạn chế các tranh chấp nhỏ leo thang thành vụ việc lớn, giảm thiểu chi phí và thời gian 9 cho các bên cũng như cho cơ quan nhà nước. Ngoài ra, hòa giải ở cơ sở còn góp phần xây dựng ý thức pháp luật trong cộng đồng, khuyến khích mọi người tôn trọng pháp luật và giải quyết mâu thuẫn một cách văn minh.
Vai trò của thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở Thực tế đã chứng minh thực hiện tốt pháp luật về hòa giải ở cơ sở có vai trò rất quan trọng. Ở phần này, chúng tôi nhất trí với quan điểm của tác giả Lê Trung Quân, Trường Chính trị tỉnh Bình Thuận, cụ thể là: Thứ nhất, thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở góp phần giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư. Thứ hai, thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở góp phần phát huy, tăng cường truyền thống đoàn kết, đạo đức dân tộc, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa ở cơ sở. Thứ ba, thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở góp phần hạn chế đơn thư khiếu kiện trong nhân dân, giảm bớt các vụ việc của cơ quan Nhà nước, tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của của nhân dân và cơ quan Nhà nước Thứ tư, thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở, góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật, từng bước xây dựng thói quen, ý thức pháp luật của công dân.
Bằng sự định hướng giáo dục thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở mà pháp luật đi sâu vào nhận thức, tình cảm của từng cá nhân, từng gia đình, từng nhóm cá nhân một cách sâu sắc, có sức thuyết phục hơn theo phương châm “trăm nghe không bằng một thấy”. “Thông qua hoạt động thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở, hòa giải viên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các bên tranh chấp, giúp họ hiểu biết về chính sách pháp luật của Nhà nước. Từ đó, hình thành thói quen sống và làm việc theo pháp luật của nhân dân” [21]. Nội dung thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở 1.
Chủ thể thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở Có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 thì đó là hòa giải viên, tổ hòa giải, 10 người có uy tín trong cộng đồng, các bên có tranh chấp, các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Hòa giải viên Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người được bầu làm hòa giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn sau đây: - Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật. Trong quá trình hoạt động, hòa giải viên có quyền: - Thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở; yêu cầu các bên liên quan cung cấp tài liệu và thông tin liên quan đến vụ, việc hòa giải; hưởng thù lao theo vụ, việc khi thực hiện hòa giải.
Tổ hòa giải Tổ hòa giải có tổ trưởng và các hòa giải viên. Mỗi hòa giải có tổ trưởng và các hòa giải viên. Mỗi tổ hòa giải có từ 03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ. Tổ hòa giải có trách nhiệm: Tổ chức thực hiện hòa giải, tổ chức các buổi trao đổi kinh nghiệm và thảo luận về các phương án để tiến hành hòa giải những vụ việc phức tạp, cùng với các đoàn thể ở địa phương triển khai công tác hòa giải tại cơ sở.