Chương 1: Lý luận chung về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Luận văn thạc sĩ Luật học 7 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN 1.
Hợp đồng, đặc điểm của hợp đồng 1. Định nghĩa hợp đồng Cùng với sự phát triển của xã hội, con ngƣời càng có nhiều hơn nhu cầu về sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, bản thân họ không thể tự mình thực hiện, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu ấy. Do vậy, việc hợp tác, hỗ trợ, trao đổi lẫn nhau về tài sản, hàng hóa hay thực hiện công việc là yêu cầu tất yếu để mỗi cá nhân, tổ chức đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển của chính mình.
Để thực hiện điều này, các bên thiết lập với nhau các cam kết, khế ƣớc, thỏa thuận, hay nói cách khác là các hợp đồng. “Hợp đồng cho phép con ngƣời gánh chịu những trách nhiệm và sự tận tụy trên cơ sở có đi có lại, đƣa ra những lời hứa mà ngƣời khác có thể tin tƣởng, loại Luận văn thạc sĩ Luật học bỏ một số thứ không chắc chắn, và tạo lập những ƣớc vọng hợp lý cho các công việc trong tƣơng lai” [2]. Có nhiều thuật ngữ khác nhau đƣợc dùng để chỉ về hợp đồng nhƣ cam kết, khế ƣớc, giao kèo hay luật riêng của các bên … Là một trong những nội dung nền tảng của luật dân sự, đƣợc hình thành từ rất sớm, định nghĩa về hợp đồng cũng dần đƣợc hoàn thiện. Theo BLDS Bắc kỳ năm 1931, “Khế ƣớc là một hiệp ƣớc của một ngƣời hay nhiều ngƣời cam đoan với một hay nhiều ngƣời khác để tặng cho để làm hay không làm cái gì” (Điều 644).
BLDS Trung kỳ năm 1936 định nghĩa “Khế ƣớc là hiệp ƣớc của một hay nhiều ngƣời cam đoan với một hay nhiều ngƣời khác để chuyển giao, làm hay không làm cái gì” (Điều 680). Phần nào thừa kế, phát triển định nghĩa trên, Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 quy định “Hợp đồng dây sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mƣợn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm 8 đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”. Nhƣ vậy, so với BLDS Bắc kỳ và BLDS Trung kỳ nêu trên thì cách định nghĩa của Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 khái quát, đầy đủ hơn về mặt chủ thể tham gia hợp đồng, đồng thời cũng liệt kê cụ thể hơn các giao dịch, thỏa thuận giữa các bên khi tham gia giao kết. Tuy nhiên, cách liệt kê của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 nhƣ trên sẽ dẫn đến trƣờng hợp không thể “quét” đƣợc hết các giao dịch, tình huống phát sinh trên thực tế, từ đó có thể gây khó khăn cho các chủ thể áp dụng, thực hiện pháp luật.
Khắc phục nhƣợc điểm này, BLDS 2005, tiếp đến là BLDS 2015 đã định nghĩa lại một cách đầy đủ hơn, nhƣng ngắn gọn hơn, tập trung vào các đặc điểm, bản chất pháp lý của hợp đồng, cụ thể: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 388, BLDS 2005), hay “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (BLDS 2015). Nhƣ vậy, dù cách định nghĩa có sự thay đổi qua các thời kỳ thì hợp đồng luôn đƣợc xác định qua hai yếu tố cơ bản: 1 - sự trao đổi, thống nhất ý chí và 2 - tạo Luận văn thạc sĩ Luật học ra một hậu quả pháp lý. Trong đó, thống nhất ý chí là thống nhất trong mỗi chủ thể (giữa ý chí, mong muốn nội tại và hành động đƣợc thể hiện qua việc thỏa thuận đàm phán hợp đồng); và thống nhất ý chí giữa các bên tham gia giao kết. Hậu quả pháp lý chính là việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về hợp đồng của các nƣớc nói riêng đều tôn trọng, đề cao sự tự do ý chí của các chủ thể tham gia hợp đồng. Điều đó có nghĩa, các bên có thể tự do lựa chọn đối tác tham gia hợp đồng, đối tƣợng của hợp đồng, và tự thỏa thuận về nội dung của hợp đồng. Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng – hậu quả pháp lý sau khi ký kết hợp đồng là do các bên cùng thỏa thuận, xây dựng nên. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp, để bảo đảm trật tự xã hội, bảo vệ quyền của các bên yếu thế hơn, đảm bảo lợi ích công cộng và thực hiện mục tiêu phát triển xã hội, nhà nƣớc hạn chế tự do ý chí của các bên tham gia hợp đồng bằng cách can thiệp vào việc giao kết, thực hiện hợp đồng.
Sự hạn chế này đƣợc biểu hiện ở những khía cạnh sau: 9 Một là nhà nƣớc hạn chế tự do lựa chọn đối tác ký kết hợp đồng. Một trong những biểu hiện của tự do ý chí là mỗi bên đƣợc tự do lựa chọn ngƣời ký kết hợp đồng với mình. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp, pháp luật hạn chế việc lựa chọn ngƣời giao kết hợp đồng hoặc phải ƣu tiên giao kết hợp đồng với một số ngƣời nhất định. Tại Khoản 1 Điều 127 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: Trƣờng hợp chủ sở hữu bán nhà ở đang cho thuê thì phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê nhà ở biết về việc bán và các điều kiện bán nhà ở; bên thuê nhà ở đƣợc quyền ƣu tiên mua nếu đã thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà cho bên cho thuê tính đến thời điểm bên cho thuê có thông báo về việc bán nhà cho thuê, trừ trƣờng hợp nhà ở thuộc sở hữu chung; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bên thuê nhà ở nhận đƣợc thông báo mà không mua thì chủ sở hữu nhà ở đƣợc quyền bán nhà ở đó cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp các bên có thỏa thuận khác về thời hạn.
Quy định này hạn chế quyền tự do lựa chọn ngƣời giao kết hợp đồng của chủ sở hữu nhà, buộc chủ sở hữu có nghĩa vụ ƣu tiên bán nhà cho ngƣời đang Luận văn thạc sĩ Luật học thuê nhà, trƣờng hợp ngƣời thuê không mua nhà thì chủ sở hữu mới đƣợc bán nhà cho ngƣời khác. Bên cạnh việc hạn chế tự do giao kết hợp đồng, pháp luật còn có những quy định nhằm hạn chế tự do không giao kết hợp đồng. Điều này có thể thấy ở nhiều lĩnh vực, nhƣng nhiều nhất có thể thấy là trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công cộng. "Đối với ngƣời cung cấp dịch vụ công cộng không đƣợc từ chối giao kết hợp đồng nếu còn khả năng cung cấp dich vụ và phải mở ra cho tất cả mọi ngƣời đều có cơ hội nhƣ nhau trong việc mua và sử dụng dịch vụ.
Ngƣời giao kết hợp đồng không đƣợc từ chối giao kết hợp đồng vì lý do sắc tộc, tôn giáo hay quốc tịch…" [9] Hai là nhà nƣớc hạn chế tự do ấn định nội dung hợp đồng. Khi giao kết hợp đồng, mặc dù các bên có quyền tự do thỏa thuận các nội dung hợp đồng nhƣng sự tự do này vẫn phải nằm trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội. Mọi thỏa thuận trái với pháp luật và đạo đức đều không có hiệu lực thi hành. 10 Bên cạnh đó, về nguyên tắc các bên tham gia hợp đồng đều tự nguyện, bình đẳng.
Tuy nhiên, trong thực tế, có rất nhiều trƣờng hợp một bên trong hợp đồng yếu thế hơn nhiều so với bên còn lại về kinh tế, về cơ hội lựa chọn đối tác ký kết…, nên họ buộc phải chấp thuận những hợp đồng mẫu hoặc những điều khoản bất lợi đƣợc đƣa ra bởi bên có lợi thế hơn. Bởi vậy, để bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế hơn, pháp luật đƣa ra những giới hạn cơ bản buộc các bên phải tuân thủ khi giao kết. Nội dung nào của hợp đồng trái với những nội dung bắt buộc này của pháp luật thì không có hiệu lực. Ví dụ, tại Điều 31 Luật Điện lực năm 2004 quy định về giá điện và các loại phí thì: 1.
Biểu giá bán lẻ điện do Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt. Cơ quan điều tiết điện lực giúp Bộ trƣởng Bộ Công nghiệp xây dựng biểu giá bán lẻ điện trình Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt. Khung giá phát điện, bán buôn điện và các loại phí truyền tải điện, phân phối điện, điều độ hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trƣờng điện lực, các phí dịch vụ phụ trợ do đơn vị điện lực có liên quan xây Luận dựng, cơvăn quan điềuthạc sĩthẩmLuật tiết điện lực định trình học Bộ trƣởng Bộ Công nghiệp phê duyệt. Giá phát điện, giá bán buôn điện, giá bán lẻ điện theo hợp đồng mua bán điện có thời hạn do các đơn vị điện lực quyết định nhƣng không đƣợc vƣợt quá khung giá, biểu giá đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt.
Giá mua bán điện giao ngay đƣợc hình thành theo thời điểm giao dịch trên thị trƣờng điện lực và do đơn vị điều hành giao dịch thị trƣờng điện lực công bố phù hợp với quy định tại điểm e và điểm h khoản 1 Điều 21 của Luật này. Nhƣ vậy, mặc dù hợp đồng cung ứng điện đƣợc giao kết giữa khách hàng sử dụng điện, hoặc đơn vị bán buôn, bán lẻ điện, đơn vị phát điện với đơn vị điện lực nhƣng giá điện bán buôn, giá điện bán lẻ, giá phát điện không phải do các bên tùy ý thỏa thuận mà buộc phải tuân theo biểu giá điện đã đƣợc phê duyệt bởi cơ quan có 11 thẩm quyền. Điều này là hợp lý, bởi lẽ điện năng là sản phẩm có vai trò quan trọng đối với sinh hoạt, sản xuất trên cả nƣớc, sản xuất điện là một ngành kinh doanh độc quyền. Nếu nhƣ giá điện đƣợc "thả trôi", không có sự kiểm soát của nhà nƣớc thì sẽ dẫn đến việc đơn vị điện lực tăng giá tùy ý, làm "lũng đoạn" thị trƣờng điện năng, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến đời sống sản xuất và sinh hoạt trong nƣớc.
Đặc điểm của hợp đồng Hợp đồng có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng.