Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; - Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường; - Chương 3: Thực trạng thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường tại Việt Nam; - Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường tại Việt Nam. 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu về cơ sở lý luận Chính sách hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trƣờng Trên thế giới, chủ yếu các học giả mới chỉ nghiên cứu các chính sách bảo vệ môi trường, trong đó, có đề cập đến các quy định và chính sách hợp tác quốc tế như một giải pháp tất yếu để thực hiện chính sách bảo vệ môi trường nói chung. Ở trong nước, lĩnh vực này vẫn được coi là rất mới và khá ít người quan tâm.
Do vậy, tình hình nghiên cứu về cơ sở lý luận của chính sách này cho đến nay vẫn khá mờ nhạt. Có thể tóm lược như sau: Một vài nghiên cứu xuất phát từ những khái niệm cơ bản về các hoạt động hợp tác quốc tế, bảo vệ môi trường, và hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường, sau đó mới đi đến tiếp cận lý giải khái niệm chính trên cơ sở những khái niệm đã được giải thích như trên. Barnes và Lan G. Barnes năm 1999 đã cho ra đời cuốn “Environmental Policy in the European Union”[91], nhà xuất bản Edward Elgar.
Hai tác giả đã phân tích những vấn đề môi trường và chính sách bảo vệ môi trường của Liên minh Châu Âu ở những thời kỳ khác nhau trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường. Trong đó, phạm vi nghiên cứu là trong khối Liên minh Châu Âu nên các tác giả cũng hết sức nhấn mạnh tính hợp tác giữa các nước trong khối trong quá trình bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế chung. Tác giả Randall Baker lại nhìn hợp tác quốc tế trong phạm vi rộng hơn khi nghiên cứu và tìm hiểu về chính sách bảo vệ môi trường của Châu Âu với Mỹ, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm và gợi mở chính sách cho các nước Châu Âu tại tác phẩm “Environmental Law and Policy in the European Union and the United States”[92]. 11 Nếu chỉ để giải quyết về nội hàm khái niệm “hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường”, tác giả Chu Manh trong luận án “Nghiên cứu về chính sách và những khó khăn hợp tác quốc tế bảo vệ môi trường sinh thái”, bảo vệ năm 2009 tại Đại học Lâm nghiệp Bắc Kinh trên cơ sở giải thích khái niệm tại Luật Bảo vệ môi trường quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc đã rút ra quan điểm cá nhân, cho rằng: hợp tác quốc tế bảo vệ môi trường là để chỉ các thành viên của cộng đồng quốc tế tích cực hợp tác và áp dụng những hành động chung trong quá trình đề cập đến vấn đề môi trường đa phương hoặc song phương nhằm mục đích duy trì lợi ích chung [78].
Tuy nhiên, việc giải thích nội hàm theo cách này là hoàn toàn mơ hồ, chưa làm rõ được thế nào là quá trình hợp tác vì lợi ích chung. Do vậy, khái niệm này vẫn chưa được cụ thể hóa và quan trọng hơn là tác giả chưa lý giải được nó như là một hoạt động cụ thể giữa các chính phủ mà chỉ coi nó như là một quá trình hình thành nên những hành động quyết sách song phương và đa phương. Tác giả Hứa Kiện, Học viện Pháp luật, Đại học Phúc Châu, Trung Quốc với đề tài luận văn “Bàn về nguyên tắc hợp tác quốc tế trong việc phát triển lĩnh vực bảo vệ môi trường quốc tế” lại xuất phát từ những nguy cơ ô nhiễm môi trường để nói về các nguyên tắc hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường. Nghiên cứu này chủ yếu nghiêng về những nguyên tắc được áp dụng thực hiện trong quá trình hợp tác quốc tế và áp dụng cụ thể trong lĩnh vực bảo vệ môi trường với những đặc thù riêng, thể hiện trên các phương diện về sự tiến bộ của quan niệm hợp tác mỗi nước, sự đa dạng của các chủ thể tham gia quá trình hợp tác, sự linh hoạt của phương thức hợp tác.
Trên cơ sở đó, tác giả đã chứng minh được tính tất yếu của việc các nước trong khu vực và trên thế giới cần chung tay góp sức, phát huy sức mạnh tập thể để giải quyết vấn đề toàn cầu. Tác giả Lưu Giai, chuyên ngành Luật pháp quốc tế, Đại học Hải dương Trung Quốc trong đề tài luận văn “Bàn về nguyên tắc hợp tác quốc tế trong 12 lĩnh vực bảo vệ môi trường”, cũng trên cơ sở lý luận về nguyên tắc hợp tác quốc tế đã đưa ra một số giải pháp hợp tác để bảo vệ môi trường. Cụ thể như: thúc đẩy hợp tác chính trị liên quan đến bảo vệ môi trường giữa các nước, giải quyết mối quan hệ giữa tự do thương mại và hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường. Qua đó, tác giả cũng đã đưa ra một số gợi mở trong lý luận chính trị về môi trường toàn cầu, những hạn chế và hiện thực về giải quyết vấn đề môi trường toàn cầu.
Ngoài ra, một vài nghiên cứu trực tiếp đưa ra khái niệm chính sách hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường với những cách tiếp cận khá đa dạng. Trong Báo cáo “The Direction of international environmental cooperation” (tháng 7 năm 2005) có đưa ra khái niệm chính sách này trên cơ sở nhấn mạnh “các quốc gia tạo được mối quan hệ đối tác bằng việc thực thi các kế hoạch và thực hiện các chính sách của mình để đạt được mục tiêu hợp tác với các quốc gia khác”[89]. Cách lý giải này tương đối mới và cho đến nay nó cũng đã trở thành một xu hướng nghiên cứu khoa học chính sách công mới khi cho rằng chính sách công cũng có đời sống riêng của nó, là một thực thể khách quan, tồn tại khách quan trong đời sống xã hội cho dù con người có ý thức được nó hay không. Định nghĩa này không tiếp cận chính sách trên cơ sở thể chế mà tiếp cận trên cơ sở các hoạt động chính sách, coi chính sách như một đời sống chân thực, có mục tiêu và hoạt động cụ thể.
Đời sống chính sách này được hiểu là tổng thể các loại hình và các hình thức hoạt động, hành vi liên kết với nhau của Chính phủ các nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Nó là một bộ phận cấu thành và là một dạng đặc biệt của đời sống xã hội, gắn liền với đời sống kinh tế và đời sống chính trị của mỗi nước. Các chính sách này cũng là một bộ phận của đời sống tinh thần của người dân, chỉ rõ đặc điểm của từng quốc gia dân tộc[73]. Mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những chính sách hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường khác nhau dựa trên đặc điểm văn hóa, chính trị, điều kiện tự nhiên môi trường của mỗi nước.
Có thể thấy cách tiếp cận khái 13 niệm chính sách hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường như trong tác phẩm này là rất sáng tạo, đặt chính sách trong một phạm trù mang tính vận động chứ không hề tĩnh tại như các quan điểm truyền thống. Các tác giả Vig và Kraft trong tác phẩm “Environmental Policy: New directions for the 21 century” (năm 2010) lại có cách lý giải khái niệm chính sách hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường ở một góc độ khác. Hai ông đã chỉ ra: chính sách hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường bao gồm những hoạt động chung của các tổ chức trong các chính sách môi trường, và khẳng định đây là chính sách đa cơ quan[95]. Như vậy, khái niệm này được chỉ ra trong vị trí là một bộ phận của chính sách bảo vệ môi trường nói chung, đặt chính sách hợp tác quốc tế như là một thành phần nội dung đối ngoại trong chỉnh thể hệ thống chính sách bảo vệ môi trường.
Đây được coi là cách lý giải khá phổ biến của các học giả, đặc biệt là những học giả trong nước. Bởi từ trước đến nay, mối quan tâm hơn cả của giới nghiên cứu về lĩnh vực bảo vệ môi trường là toàn bộ hệ thống chính sách bảo vệ môi trường, trong đó có những quy định chính sách về hợp tác quốc tế nhỏ lẻ nói riêng. Những đối tượng quan tâm nghiên cứu chính sách riêng về hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường thường là những cá nhân, tổ chức công tác trong lĩnh vực cụ thể này, bởi mối quan tâm của họ mới thực sự là những thể chế, quy định để tiến hành thực thi công tác hợp tác quốc tế theo đúng luật pháp quốc gia và không vi phạm luật pháp quốc tế, nhằm mục tiêu chung để bảo vệ môi trường. Về đặc trưng cơ bản của chính sách hợp tác quốc tế bảo vệ môi trường, trong bài viết “Environmental policy, municipalities and intergovernmental cooperation in Brazil” của tác giả Estela Maria Souza Costa Neves có chỉ ra năm đặc trưng cơ bản như sau: - Số lượng các bên tham gia chính sách phải là số nhiều: để thực hiện được một chính sách hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường, bắt buộc phải có sự tham gia của nhiều nền chính trị, nhiều nền hành chính quản lý trong 14 lĩnh vực môi trường.
Nguyên nhân là bởi các vấn đề về sự cố môi trường thường vượt qua các giới hạn hành chính, phạm vi lãnh thổ thông thường, đồng thời lại có liên quan đến nhiều thực thể chính trị - hành chính trong việc bảo vệ và quản lý (có thể là trong phạm vi mối quan hệ giữa các quốc gia hay phạm vi mối quan hệ giữa các địa phương trong cùng một quốc gia). - Các bên tham gia có sự giao thoa lẫn nhau: có nghĩa là khẳng định có sự can thiệp của nhà nước theo những yêu cầu cụ thể trong các lĩnh vực thuộc trách nhiệm của các ngành hành chính khác có khả năng tác động đến chất lượng môi trường. Vấn đề môi trường là một vấn đề có quy trình khép kín, thường “đóng gói” chính sách trong các cơ quan ngành chiếm ưu thế ngay cả trong cơ cấu hành chính của các nước tiên tiến.