Tài liệu Kỹ thuật: Thực hành tính toán gia công phay nxb khoa học kỹ thuật

Sách hướng dẫn thực hành tính toán gia công phay của tác giả Tăng Văn Mùi, xuất bản năm 2010, cung cấp kiến thức chuyên sâu về kỹ thuật phay.

Chuyên ngành

Cơ khí chế tạo máy

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách thực hành

2010

232
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Thực hành Tính toán Gia công Phay

Thực hành tính toán gia công phay là một lĩnh vực quan trọng trong ngành cơ khí chế tạo máy. Cuốn tài liệu này được biên soạn nhằm hỗ trợ những người mới bắt đầu làm quen với máy phay thu được các kinh nghiệm thiết thực và có thể hoàn thành các bài thực hành trong thời gian ngắn nhất. Sách được viết dưới dạng giáo trình đầy đủ về nguyên công phay, bao gồm các bài thực hành cụ thể, phương pháp sử dụng máy phay và các thủ thuật hữu dụng. Ngoài ra, nội dung còn trình bày về các loại máy phay hiện đại, nguyên công phay CNC, và nguyên tắc lập trình phay CNC cùng với nhiều chương trình mẫu thực tế. Tài liệu này phù hợp không chỉ với người mới mà còn phù hợp với sinh viên, học viên, giáo viên các trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng.

1.1. Mục đích và ứng dụng của tài liệu

Mục đích chính của tài liệu là cung cấp kinh nghiệm thiết thực trong gia công phay cho người học. Tài liệu được thiết kế với ba bài thực hành lớn và nhiều bài tập chế tạo các vật dụng thiết thực cho xưởng gia công cơ khí. Những người đã có kinh nghiệm cũng sẽ tìm thấy nhiều điều bổ ích thông qua các bài thực hành nâng cao. Nội dung được trình bày một cách hệ thống và dễ hiểu, giúp người học nắm bắt các kỹ năng cơ bản và nâng cao.

1.2. Đối tượng và lợi ích của học tập

Tài liệu phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau từ người mới tập sự, sinh viên cho đến giáo viên và những chuyên gia gia công cơ khí. Bằng cách hoàn thành các bài thực hành có quy mô tăng dần, người học sẽ nắm vững từng kỹ năng cơ bản trước khi tiến đến những bài toán phức tạp hơn. Các lợi ích chính bao gồm hiểu rõ nguyên công phay, sử dụng hiệu quả máy phaynâng cao kỹ năng gia công chính xác.

II. Các Loại Dao Phay và Đặc điểm Kỹ thuật

Dao phay là công cụ cắt quan trọng nhất trong quá trình gia công phay. Có hai dạng dao phay cơ bản là dao phay mặt đầumũi khoan rãnh, mỗi loại có những đặc điểm và ứng dụng riêng biệt. Dao phay mặt đầu có bốn mép cắt và được sử dụng cho các công việc cắt bề mặt, trong khi mũi khoan rãnh chỉ có hai mép cắt và được dùng để phay rãnh đầu kín (rãnh cụt). Các dao phay chuôi 6 mm được gọi là dao phay mini có ba mép cắt và có chức năng tương đương với cả hai loại dao trên. Hiểu rõ về loại dao phay, đường kính, chuôi dao và số lượng mép cắt là yếu tố then chốt để lựa chọn công cụ phù hợp cho từng công đoạn gia công.

2.1. Dao phay mặt đầu và ứng dụng

Dao phay mặt đầubốn mép cắt dài bằng nhau kết thúc đột ngột ở tâm dao. Điều này ngăn dao ngập sâu vào chỉ tiết, do đó được sử dụng cho những công việc cắt bề mặt thông thường. Chúng có đường kính tối đa 14 mm với chuôi 12 mm hoặc 20 mm với chuôi 16 mm. Dạng thông dụng nhất là chuôi dao có ren kết hợp với hệ thống ống kẹp dao phay. Những ưu điểm nổi bật là độ chính xác cao và khả năng cắt mượt mà.

2.2. Mũi khoan rãnh và dao phay mini

Mũi khoan rãnhhai mép cắt, trong đó mép này dài hơn mép kia và đi qua tâm dao, cho phép phay các rãnh đầu kín một cách hiệu quả. Dao phay mini chuôi 6 mmba mép cắt, được gọi là dao phay dùng một lần với chức năng tương đương cả hai loại dao trên. Chúng tiết kiệm chi phí và thích hợp cho các công việc gia công nhỏ lẻ khi không cần mài lại.

III. Thiết bị và Phụ tùng Máy Phay Cần Thiết

Máy khoan - phay cỡ trung thường được cung cấp kèm với đầu kẹp mũi khoan, bàn kẹp (êtô) nghiêng, dao cắt bề mặtmột số dao phay mặt đầu. Tuy nhiên, điều bất ngờ là thiếu dái ốc chữ T, một phụ tùng định vị cơ bản rất quan trọng. Sự thiếu sót này gây khó khăn cho việc gá lắp bàn kẹp và là lý do tại sao bài thực hành đầu tiên là chế tạo dái ốc chữ T. Những phụ tùng bổ sung cần thiết bao gồm đầu kẹp dao phay, ống kẹp dao (hệ Anh và hệ mét), các giá dao có lỗ côndụng cụ gá lắp khác. Việc đầu tư vào các phụ tùng chất lượng cao sẽ đảm bảo độ chính xác và an toàn trong quá trình gia công.

3.1. Đầu kẹp dao phay và hệ thống ống kẹp

Đầu kẹp dao phay là một phụ tùng thiết yếu trong máy phay. Để có các ống kẹp hệ Anh và hệ mét với đường kính chuôi dao đến 16 mm (5/8 in), bạn cần trả một khoản tiền khá lớn. Dao phay chuôi trơn ngày càng phổ biến hơn nhưng vẫn thiếu sự vững chắc tuyệt đối của dao chuôi có ren. Một ngoại lệ là dao chuôi trơn 6 mm không được dự kiến để mài lại, giúp tiết kiệm chi phí.

3.2. Bàn kẹp phay và tính năng gia công

Bàn kẹp (êtô) phay được cung cấp kèm máy thường đủ mạnh để kẹp giữ các chỉ tiết nhỏ hơn khẩu độ ngàm kẹp. Tuy nhiên, độ chính xác nhanh chóng bị suy giảmcần gia công lại. Cấu trúc bàn kẹp cho phép gia công lại, nhưng do khả năng quay nghiêng của bàn kẹp, công việc này tương đối phức tạp. Khi đã có đầu kẹp dao phay chất lượng, bạn có thể khởi sự chế tạo các chỉ tiết thiết yếu còn lại.

IV. Các Bài Thực hành và Phương pháp Gia công

Quá trình gia công trên máy phaynguyên công tương đối ít hơn so với máy tiệnquá trình gia công chỉ thay đổi chút ít khi chuyển từ công đoạn này sang công đoạn khác. Chủ yếu là thay đổi cách gá lắp theo hình dạng chỉ tiết gia công, vị trí gia công và đo đạc để bảo đảm sản phẩm chính xác. Tài liệu này đưa ra các bài thực hành gia công chỉ tiết có quy mô tăng dần, giúp người học từng bước nắm vững các kỹ năng cơ bản trước khi tiến đến những bài toán phức tạp hơn. Bài thực hành đầu tiên là chế tạo dái ốc chữ T, sử dụng các đỡ gá tạm để lắp bàn kẹp nghiêng. Trong quá trình thực hiện, người học sẽ thấy quá trình gia công diễn ra không suôn sẻ, đặc biệt khi dao phay bị kéo ra khỏi đầu kẹp do hình dạng xoắn ốc của dao.

4.1. Bài thực hành đầu tiên Chế tạo dái ốc chữ T

Bài thực hành chế tạo dái ốc chữ Tbài thực hành đầu tiênthiếu sót phụ tùng này gây khó khăn cho việc gá lắp bàn kẹp. Việc sử dụng các đỡ gá tạm để lắp bàn kẹp nghiêng sẽ giúp người học làm quen với các kỹ thuật gá lắp cơ bản. Điều kiện để tiến hành gia công thành côngsiết đầu kẹp mũi khoan thật chặtthực hiện các đường cắt rất mỏng. Bài thực hành này giúp người học hiểu rõ về cấu trúc máy phaycác yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng gia công.

4.2. Các bài thực hành nâng cao và chế tạo vật dụng thực tế

Sau khi hoàn thành bài thực hành cơ bản, người học sẽ tiến đến những bài thực hành lớn hơn với quy mô tăng dần. Tài liệu cung cấp ba bài thực hành lớn cùng với nhiều bài tập chế tạo các vật dụng thiết thực dành cho xưởng gia công cơ khí. Những bài thực hành này giúp áp dụng lý thuyết vào thực tếnâng cao kỹ năng gia công chính xác, hiệu quả.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu (`” nguyên công trên máy phay tương đối ít hơn so với máy tiện, vì quá trình gia công chỉ thay đối chút ít khi chuyển từ công đoạn này sang công đoạn khác, chủ yếu là thay đổi cách gá lắp theo hình dang chỉ tiết gia công, vị trí gia. công, và đo đạc để bảo đảm sản phẩm chính xác. Do đó, cuốn sách này đưa ra các bài thực hành gia công chỉ tiết có quy mô tăng dẫn, thay vì mỗi bài thực hành liên quan đến một nguyên công cụ thể. Đối với máy khoan - phay cỡ trung, điều bạn cần lưu ý là phụ tùng bán kèm theo máy thường không đủ cho nhiều hoạt động gia công thực té.

ĐẦU KẸP DAO PHAY Máy khoan - phay cỡ trung thường được cung cấp cùng với đầu kẹp mũi khoan, bàn kẹp (êtô) nghiêng, đao cắt bể mặt cỡ lớn, và một ít đao phay mặt đầu. Điều ngạc nhiên là không có đai ốc chữ T, phụ tùng định vị cơ bản đối với máy phay. Sự thiếu 7 sót này gây khó khăn cho việc gá lắp bàn kẹp. Do đó, chế tạo dai ốc chữ T sẽ là bài thực hành đầu tiên, sử dụng các đỗ gá tạm để lắp bàn kẹp nghiêng.

Khi thực hiện điều này bạn sẽ thấy quá trình gia công diễn ra không suôn sẻ, dao phay bị kéo ra khỏi đầu kẹp do hình dạng xoắn ốc của dao. Điều kiện để có thể tiến hành gia công là siết đầu kẹp mũi khoan thật chặt và thực hiện các đường cắt rất mỏng. Mặc dù giá ca dau kẹp đao phay hiện nay tương đối rẻ, nhưng để có các ống kẹp hệ Anh và hệ mét, và đường kính chuôi dao đến 16 mm (5/8 in), bạn phải trả một khoản tiền khá lớn so với giá mua máy. Một phương pháp khác là sử dụng các giá dao có lỗ côn tương thích với từng kích cỡ chuôi đao; nhưng khi cần số lượng lớn, giá cả của chúng cũng không thay đối bao nhiêu so với đầu kẹp - đao phay.

Theo lý thuyết, các giá đao cũng kém chính xác hơn, không thể bù cho các cỡ chuôi dao khác nhau đo dung sai đường kính cho phép của chúng, và chủ yếu được dùng để lắp các dao có kích cỡ ít thông dụng, ví dụ, chuôi dao 16 mm khi chỉ có đầu kẹp 12 mm. BÀN KẸP PHAY Bàn kẹp (êtô) bán kèm với máy khoan - phay cỡ trung đủ mạnh để kẹp giữ các chỉ tiết nhỏ hơn khẩu độ ngàm kẹp, tuy nhiên độ chính xác nhanh chóng bị suy giảm và cần gia công lại. Cấu trúc bàn kẹp cho phép gia công lại, nhưng do khả năng quay nghiêng của bàn kẹp, công việc này tương đối phức tạp. Khi đã có đầu kẹp dao phay, bạn có thể khởi sự chế tạo các chỉ tiết thiết yếu còn lại.

Tất nhiên, bạn sẽ cần một số đao phay và vài dụng cụ nhỏ khác. Phần tiếp theo sẽ để cập đến những dụng cụ đó. DAO PHAY Dao phay cơ bản gồm hai dạng, dao phay mặt đầu và mũi khoan rãnh. Chúng có đường kính tối đa 14 mm với chuôi 12 mm và 20 mm với chuôi 16 mm.

Dạng thông dụng nhất là chuôi dao có ren và cần hệ thống ống kẹp để lắp. Các dao chuôi trơn và ống kẹp thích hợp ngày càng thông dụng hơn, nhưng chúng vẫn thiếu sự vững chắc tuyệt đối của dao phay là không bị kéo ra khỏi ống kẹp, đù chỉ được siết nhẹ. Một ngoại lệ là dao chuôi trơn 6 mm không được dự kiến để mài lại. Các dao phay mặt đầu có bốn mép cắt trong khi mũi khoan rãnh chỉ có hai.

Các mũi khoan rãnh dùng để phay rãnh, cụ thể là các rãnh đầu kín (rãnh cụt); mặc đù trong trường hợp bất đắc đĩ, có thể sử dụng dao phay mặt đầu cho quá trình này. Vì vậy, bạn cần có cả hai loại dao này. Các đao phay chuôi 6 mm có ba mép cắt và có chức năng tương đương với cả dao phay mặt đầu và mũi khoan rãnh. Chúng được gọi là dao phay mini, đao phay dùng một lần, và nhiều tên khác.

Hình 1-1 minh họa sự khác biệt cơ bản giữa ba dạng này. Dao phay mặt đầu ở bên trái có bốn mép cắt dài bằng nhau và kết thúc đột ngột ở tâm đao. Điều này ngăn đao ngập sâu vào chỉ tiết (Hình 1-2), do đó, sử dụng chúng để thực hiện các rãnh kín là không thực tế. Bên phải là mũi khoan rãnh hai mép cắt, mép này dài hơn mép kia và đi qua tâm đao.

Kiểu đao này cho phép cắt qua tâm và có thể thọc sâu vào chỉ tiết để cắt các rãnh kín. Ở giữa là dao phay mini có ba mép cắt giao nhau ở tâm, có thể được sử dụng như dao phay mặt đầu hoặc mũi khoan rãnh. Những tiến bộ gần đây về dụng cự cắt cho phép sử dụng các mũi chắp (đã sử dụng rộng rãi trên máy tiện trong nhiều năm) 9 Hình 1-1. Ba dạng dao thông dụng, từ trái qua phải: dao phay mặt đầu, dao phay mini, và mũi khoan rãnh Hình 1-2.

Dao phay mặt đầu chỉ có thể ăn ngập vào chỉ tiết rất cạn do không có khả năng cắt qua tâm. Cắt các rãnh kín bằng dao này là phi thực tế 10 làm dao phay mặt đâu và dao cắt bể mặt trên máy phay. Tuy nhiên, do không thể chế tạo mũi chấp quá nhỏ, các đao phay truyền thống cỡ nhỏ vẫn còn cần thiết, nhất là mũi khoan rãnh. Dao cắt bể mặt, thường được cung cấp theo máy phay đưới dạng phụ tùng, rất hữu dụng để gia công các diện tích lớn.

Tuy nhiên, chúng không phải là phụ tùng thiết yếu và sẽ được trình bày sau. THIẾT BỊ ĐO Sự đo đạc các chỉ tiết đang gia công trên máy phay khó hơn nhiều so với trên máy tiện, và có thể phải đo các kích thước lớn hơn. Do đó, bạn cân có thước vernier 150 mm, đồng hỗ so để đặt chi tiết lên bàn máy một cách chính xác và tương ứng với dao phay. Thước góc (êke) chính xác cũng cần thiết để định vị chỉ tiết trên bàn máy, một số trường hợp đòi hỏi hai thước góc.

CÁC DỤNG CỤ CẦN THIẾT KHÁC Những dụng cụ cần thiết khác gồm các loại kẹp, tấm góc và các khối song song. Chúng khá đơn giản và được dùng làm nền tầng cho các bài thực hành trong những chương đầu. 11, Chuong 2 Dai 6c cha T Ke thước rãnh chữ T thay đổi theo kích thước máy phay, do đó không thể nêu ra kích thước của các đai ốc chữ T. Bạn có thể tìm hiểu để thiết lập kích thước cụ thể phù hợp với máy của bạn, nhưng đó không phải là điều quan trọng, chiều dài đai ốc ít nhất phải bằng chiều rộng chữ T là thỏa đáng.

Ngoài ra, chiều rộng và độ dày của các nhánh chữ T không nên quá khít với rãnh chữ T, vì các phơi bào nhỏ sẽ làm bạn khó địch chuyển đai ốc. Có nhiều cách để gia công một số đai ốc chữ T, nhưng cách đơn giản nhất là chế tạo hai đai ốc bằng tay, sử dụng cưa sắt và giũa. Thông thường, số lượng đai ốc tối thiểu là 8, và bạn cũng cần chế tạo một số 5 =] đai ốc có cỡ ren khác nhau, thông dụnglà LJ EC ren M8 va M10. Dai 6c cé ren léch tâm Đai ốc chữ T được ta rõ (Hình SK1) rất hữu dụng trong những vị trí tông Không han chà tap chật hẹp.

SK1 12 CHE TAO DAI OC CHU T Tạm thời bạn chế tạo hai đai ốc chữ T có kích cỡ ren nhỏ hơn một cỡ so với cỡ ren được chọn cho đai ốc sẽ chế tạo, ví dụ, M8 nếu đai ốc dự kiến là M10. Cắt một đoạn vật liệu (phôi) đủ chế tạo số đai ốc được yêu câu, kể cả lượng dư để cắt rời từng đai ốc, 2 mm cho mỗi đai ốc. Chiểu rộng thanh vật liệu ít nhất phải bằng chiều rộng đai ốc và đày bằng chiều sâu toàn phần của đai ốc. Đối với những thanh vật liệu lớn bạn cần giảm kích thước theo yêu cầu.

Đánh dấu lên thanh vật liệu để khoan và : tarô, nhớ tính thêm lượng Hình 2-1. Khoan đoạn vật liệu để chế dư 2 mm, và khoan các lỗ tạo 4 đai ốc chữ T đến kích thước tarô (Hình 2-1). Gá lắp thanh vật liệu như trên Hình 2-2, sử dụng hai đai ốc tạm. Điều này có vẻ đơn giản, nhưng bạn cần nhớ là khe hở của đai ốc chữ T trong rãnh và các vít trong lỗ cho phép thay đổi vị trí của thanh vật liệu.

Chiều dài thanh vật liệu phải trùng với trục ĐẦn tình 2-2, Định vị thanh vật liệu trên máy, nếu không, chiều rộng _ pàn máy phay. 13 gia công ở hai đầu sẽ khác nhau. Để chính xác, bạn dùng đẳng hồ so lắp trong đầu kẹp kiểm tra đọc theo chiều dài chỉ tiết khi đi chuyển bàn máy theo chiều tiến. Mặc dù trong trường hợp này, độ chính xác cao không quan trọng, chỉ cần cả hai đầu của thanh vật liệu tách khỏi mép trước bàn máy là được.

Hình minh họa còn cho thấy tấm bìa mổng (0.2 mm) được chêm vào giữa thanh vật liệu và bàn máy; công dụng của tấm bìa này sẽ được trình bày sau. Mặc dù chiêu rộng sẽ gia công không quá vài miimét, nhưng dao cắt phải có đường kính tối thiểu gấp ba lần chiều rộng đường cắt. PHAY THUẬN VÀ PHAY NGHỊCH Công việc được viết nhiễu trên quy trình phay nhấn mạnh: chỉ tiết gia công nên chuyển động theo chiều ngược với chiều quay của dao. Các thuật ngữ phay nghịch, phay thuận được sử dụng và nhấn mạnh yêu cầu này xuất phát đầu tiên từ sự phay ngang.

Vấn để là do tác động của dao có xu hướng dịch chuyển chỉ tiết theo hướng cùng chiều với chiều ăn dao, tác động cắt lớn có thể làm bàn máy đi chuyển đột ngột về phía trước khi gặp khe hở (độ rơ) trong vít me. Sự chuyển động đột ngột về phía trước này sẽ làm tăng mạnh chiểu sâu đường cắt với những hậu quả tai hại. Với máy phay đứng, tai cắt nhẹ so với độ cứng vững của bàn máy, điểu này ít có khả năng xảy ra. Nhưng khi thực hiện các đường cắt sâu với dao đường kính lớn, vấn để này có thể xuất hiện, vì vậy, tốt nhất bạn nên cho chí tiết gia công chuyển động theo chiều ngược với chiều quay của dao.

Tuy nhiên, trong công nghiệp, các bàn máy hiện đại có thể không có khe hở, sự di chuyển bần máy theo chuyển động quay của dao được ưa chuộng hơn, do độ bóng bể mặt của chỉ tiết gia công cao hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ