Luận văn thạc sĩ thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn quận 9 thành phố hồ chí minh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

84
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thực Hành Quyền Công Tố Vụ Án Cố Ý Gây Thương Tích

Thực hành quyền công tố (THQCT) là một chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong hệ thống tư pháp Việt Nam. Chức năng này được hiến định và cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS). THQCT bao gồm việc điều tra, truy tố và bảo vệ cáo trạng trước tòa, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Đặc biệt, trong các vụ án cố ý gây thương tích, THQCT đóng vai trò then chốt trong việc thu thập chứng cứ, xác định tội danh và đề nghị mức án phù hợp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại và đảm bảo công lý.

1.1. Khái niệm và phạm vi của quyền công tố trong tố tụng hình sự

Quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này được thực hiện thông qua các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử. Phạm vi của quyền công tố bao gồm việc khởi tố vụ án, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố bị can, bị cáo và tham gia tranh tụng tại phiên tòa. Theo Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, công tố có nghĩa là 'điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án' [34, tr. Theo Từ điển Luật học, công tố 'là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội'[26, tr. Ở Việt Nam hiện nay, quyền công tố được Nhà nước giao cho VKS thực hiện.

1.2. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố

VKSND là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao thực hiện quyền công tố. VKSND có trách nhiệm bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. VKSND thực hiện quyền công tố thông qua các hoạt động điều tra, truy tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định VKSND có chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm thực hiện “nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”[15, tr.

II. Thách Thức Trong Thực Hành Quyền Công Tố Vụ Án Cố Ý Gây Thương Tích

Mặc dù THQCT đóng vai trò quan trọng, nhưng quá trình thực hiện vẫn còn nhiều thách thức. Các khó khăn thường gặp bao gồm: thu thập chứng cứ đầy đủ và khách quan, đánh giá tỷ lệ thương tật chính xác, xác định đúng hành vi cố ý gây thương tích, và đảm bảo quyền của bị can, bị cáo cũng như người bị hại. Ngoài ra, áp lực từ dư luận xã hội và sự phức tạp của các mối quan hệ xã hội cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình THQCT. Việc giải quyết triệt để những thách thức này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp và sự nâng cao năng lực của đội ngũ Kiểm sát viên.

2.1. Khó khăn trong thu thập và đánh giá chứng cứ vụ án

Việc thu thập chứng cứ trong các vụ án cố ý gây thương tích thường gặp nhiều khó khăn do tính chất phức tạp của vụ việc. Chứng cứ có thể bị thất lạc, bị tiêu hủy hoặc bị làm sai lệch. Việc đánh giá chứng cứ cũng đòi hỏi sự khách quan, toàn diện và sâu sắc. Đôi khi, việc xác định chứng cứ nào là quan trọng, chứng cứ nào là không liên quan là một thách thức lớn.

2.2. Vướng mắc trong xác định tỷ lệ thương tật và hành vi phạm tội

Việc xác định tỷ lệ thương tật là căn cứ quan trọng để định khung hình phạt. Tuy nhiên, việc giám định pháp y có thể gặp sai sót hoặc có sự khác biệt giữa các kết quả giám định. Việc xác định hành vi phạm tội cũng đòi hỏi sự chính xác, khách quan và toàn diện. Cần phải xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan.

2.3. Áp lực từ dư luận xã hội và các yếu tố bên ngoài khác

Áp lực từ dư luận xã hội có thể ảnh hưởng đến quá trình THQCT. Các phương tiện truyền thông có thể đưa tin không chính xác hoặc không đầy đủ về vụ việc, gây ra những định kiến trong dư luận. Các yếu tố bên ngoài khác, như mối quan hệ xã hội, cũng có thể gây áp lực lên các cơ quan tư pháp.

III. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hành Quyền Công Tố Tại Quận 9

Để nâng cao hiệu quả THQCT trong các vụ án cố ý gây thương tích tại Quận 9, TP.HCM, cần có các giải pháp đồng bộ. Các giải pháp bao gồm: tăng cường đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên, nâng cao chất lượng điều tra vụ án, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tư pháp, và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc áp dụng các án lệhướng dẫn nghiệp vụ mới nhất để đảm bảo tính thống nhất và chính xác trong quá trình THQCT.

3.1. Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên

Đội ngũ Kiểm sát viên cần được trang bị đầy đủ kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức. Cần có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên để cập nhật kiến thức mới, nâng cao kỹ năng thu thập chứng cứ, kỹ năng tranh tụng và kỹ năng giải quyết các tình huống phức tạp.

3.2. Nâng cao chất lượng điều tra và thu thập chứng cứ

Cơ quan điều tra cần nâng cao chất lượng điều tra, thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan và toàn diện. Cần áp dụng các biện pháp nghiệp vụ hiện đại để thu thập chứng cứ điện tử, chứng cứ hình ảnh và các loại chứng cứ khác. Cần đảm bảo tính hợp pháp của các chứng cứ thu thập được.

3.3. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tư pháp

Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa VKSND, Cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác. Cần có các quy chế phối hợp cụ thể để giải quyết các vướng mắc trong quá trình THQCT. Cần tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Phân Tích Vụ Án Cố Ý Gây Thương Tích Điển Hình

Việc phân tích các vụ án cố ý gây thương tích điển hình tại Quận 9 giúp làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn trong THQCT. Qua việc xem xét các tình tiết, chứng cứ, và quá trình tố tụng của các vụ án cụ thể, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu. Đồng thời, việc phân tích các vụ án điển hình cũng giúp phát hiện ra những hạn chế, bất cập trong hệ thống pháp luật và trong quá trình THQCT, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục.

4.1. Tóm tắt vụ án và các tình tiết liên quan

Trình bày tóm tắt vụ án, bao gồm thời gian, địa điểm xảy ra vụ việc, đối tượng gây án, người bị hại, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, mức độ thương tích và các tình tiết khác liên quan đến vụ án.

4.2. Phân tích quá trình điều tra truy tố và xét xử

Phân tích quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án, bao gồm các hoạt động thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, đề nghị mức án và xét xử của Tòa án. Đánh giá tính khách quan, toàn diện và chính xác của quá trình tố tụng.

4.3. Rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp

Rút ra những bài học kinh nghiệm từ vụ án, bao gồm những thành công và hạn chế trong quá trình THQCT. Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả THQCT trong các vụ án tương tự.

V. Kiểm Sát Hoạt Động Tư Pháp Trong Vụ Án Cố Ý Gây Thương Tích

Kiểm sát hoạt động tư pháp là một chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân, nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án cố ý gây thương tích. Hoạt động này bao gồm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiểm sát hoạt động điều tra, truy tố và xét xử. Thông qua kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND có thể phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

5.1. Kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tố giác tin báo tội phạm

VKSND có trách nhiệm kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra. VKSND phải đảm bảo mọi tố giác, tin báo về tội phạm đều được tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật. VKSND có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định của pháp luật.

5.2. Kiểm sát hoạt động điều tra và truy tố

VKSND có trách nhiệm kiểm sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, đảm bảo hoạt động điều tra được thực hiện đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. VKSND có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật. VKSND có trách nhiệm truy tố bị can, bị cáo ra trước Tòa án khi có đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội.

5.3. Kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án

VKSND có trách nhiệm kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án, đảm bảo việc xét xử được thực hiện đúng pháp luật, khách quan, công bằng và minh bạch. VKSND có quyền tham gia tranh tụng tại phiên tòa, bảo vệ cáo trạng và đề nghị mức án phù hợp với hành vi phạm tội.

VI. Kết Luận và Kiến Nghị Về Thực Hành Quyền Công Tố Hiện Nay

THQCT trong các vụ án cố ý gây thương tích là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần bảo vệ an ninh trật tựcông lý xã hội. Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Để nâng cao hiệu quả THQCT, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp, sự nâng cao năng lực của đội ngũ Kiểm sát viên, và sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền pháp luậtphòng ngừa tội phạm để giảm thiểu số lượng các vụ án cố ý gây thương tích xảy ra.

6.1. Tóm tắt những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại

Tóm tắt những kết quả đạt được trong công tác THQCT đối với các vụ án cố ý gây thương tích, bao gồm số lượng vụ án được giải quyết, tỷ lệ truy tố đúng người, đúng tội, và những đóng góp vào việc bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Đồng thời, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại, như khó khăn trong thu thập chứng cứ, vướng mắc trong xác định tỷ lệ thương tật, và áp lực từ dư luận xã hội.

6.2. Đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả

Đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện pháp luật, như sửa đổi, bổ sung các quy định về giám định pháp y, về thu thập chứng cứ điện tử, và về bảo vệ người làm chứng. Đề xuất các kiến nghị để nâng cao hiệu quả THQCT, như tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tư pháp, và tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật.

6.3. Triển vọng và hướng phát triển của công tác thực hành quyền công tố

Nêu ra những triển vọng và hướng phát triển của công tác THQCT trong tương lai, như áp dụng các công nghệ thông tin vào quá trình tố tụng, tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, và xây dựng một hệ thống tư pháp hiện đại, công bằng và minh bạch.

09/06/2025
Luận văn thạc sĩ thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn quận 9 thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1. Khái niệm - Phạm vi - Đặc điểm của thực hành quyền công tố 1. Khái niệm - Phạm vi Khái niệm về quyền công tố: Chế định VKS được quy định trong pháp luật Việt Nam đã từ rất lâu nhưng cho đến Hiến pháp năm 1980 thì thuật ngữ “thực hành quyền công tố” với tư cách là chức năng của Viện kiểm sát mới được chính thức ghi nhận. Từ thời điểm đó, khái niệm quyền công tố và THQCT đã được nghiên cứu, đề cập khá nhiều trong khoa học pháp lí nước ta dưới các góc độ khác nhau.

Song, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức đối với vấn đề này, chưa có một quan điểm thống nhất khi bàn về quyền công tố. Theo Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, công tố có nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án" [34, tr. Theo đó, công tố bao gồm cả hoạt động điều tra và truy tố, buộc tội kẻ phạm tội trước Tòa án. Theo Từ điển Luật học, công tố “là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”[26, tr.

Ở Việt Nam hiện nay, quyền công tố được Nhà nước giao cho VKS thực hiện. Trên cơ sở đó có thể hiểu, “quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội”[26, tr. Trong giới nghiên cứu khoa học, khái niệm quyền công tố được đưa ra tương đối nhiều nhưng có thể kể đến một số quan điểm chính sau: Quan điểm thứ nhất: “Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hiện quyền công tố)” [21, tr. Như vậy, theo quan điểm này, quyền công tố 9 chỉ tồn tại trong lĩnh vực hình sự, đó là quyền của Nhà nước truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa hình sự (duy trì quyền công tố).

Và ở Việt Nam, quyền này được giao cho chủ thể duy nhất là VKSND. Điều này đồng nghĩa với việc công tác thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là TTHS và công tác này cũng chỉ tồn tại ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm. Quan điểm này chưa phản ánh đầy đủ bản chất của quyền công tố. Bởi lẽ, truy tố và buộc tội chỉ là một trong số các quyền năng, hoạt động của VKS ở giai đoạn xét xử sơ thẩm trong TTHS.

Ngoài hai quyền năng đó, VKS còn có nhiều quyền năng khác khi THQCT ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự và ở các giai đoạn khác trong TTHS. Quan điểm thứ hai: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội”[21, tr. Theo quan điểm này, chủ thể THQCT không chỉ có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác như CQĐT, Tòa án, Thi hành án. Như vậy, quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án đối với các vụ án hình sự.

Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc TTHS, dẫn đến nhầm lẫn giữa các chức năng cơ bản trong TTHS (buộc tội, gỡ tội, xét xử …). Quan điểm thứ ba: “Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là VKS ) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [21, tr. Cụ thể, cơ quan có chức năng THQCT có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để có thể xác định một cách chính xác tội phạm, người phạm tội và trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can 10 ra trước Tòa án cũng như bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa.

Bên cạnh đó, theo quan điểm này thì cơ quan có quyền công tố được phép nhân danh Nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và quyền này chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là trong TTHS. Ở Việt Nam, VKS ND là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao quyền công tố mà không có bất kỳ cơ quan nào có thể thay thế được. Có thể nói rằng, cho đến nay, khi đưa ra khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm khác nhau. Mỗi quan điểm đều có những yếu tố hợp lý nhưng cũng đều thể hiện những bất cập nhất định.

Với nhận thức của mình khi nghiên cứu về vấn đề này, tác giả ủng hộ khái niệm quyền công tố được đưa ra tại quan điểm thứ năm nêu trên, bởi một số lý do sau: Một là, quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền thống ở Việt Nam khi nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố. Theo đó, quyền công tố là quyền của Nhà nước buộc tội đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Hai là, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ về quyền công tố. Cụ thể, Hiến pháp, Luật tổ chức VKS ND và pháp luật tố tụng hình sự của nước ta qua các thời kỳ đều khẳng định VKSND có chức năng THQCT.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị cũng đã nêu rõ: "VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp [1, tr. Bên cạnh đó, quan điểm của ngành Kiểm sát cũng đã thể hiện một cách thống nhất từ trước đến nay: "Việc THQCT chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử" [23, tr. Phạm vi quyền công tố Về phạm vi không gian: dựa trên quan điểm chính thống về khái niệm quyền công tố được đưa ra ở trên có thể khẳng định rằng quyền công tố chỉ có 11 trong lĩnh vực TTHS mà không thể có trong lĩnh vực tố tụng khác. Theo đó, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội.

Việc buộc tội thì chỉ có trong lĩnh vực TTHS, cho nên quyền công tố không thể tồn tại trong các lĩnh vực khác không liên quan đến sự buộc tội như trong tố tụng hành chính, dân sự, kinh tế,. Vì lẽ đó, quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực duy nhất có liên quan đến tội phạm và sự buộc tội là lĩnh vực TTHS. Về phạm vi thời gian: theo quan điểm khoa học được thừa nhận phổ biến hiện nay, “phạm vi quyền công tố bắt đầu có từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị” [21, tr. Tác giả cho rằng quan điểm này rất đúng đắn.

Bởi lẽ, từ khi tội phạm được thực hiện, trách nhiệm của cơ quan được giao quyền công tố là tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện tội phạm và người phạm tội cũng như xác định căn cứ để buộc tội họ. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp THQCT đều kéo dài đến khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mà có thể chấm dứt ở giai đoạn tố tụng sớm hơn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bởi vì, không phải tất cả các vụ án hình sự đều được đưa ra xét xử trước Tòa án mà ở giai đoạn tố tụng nào đó khi quyền công tố chấm dứt thì quyền THQCT cũng không còn. Như vậy, phạm vi quyền công tố kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt, nó sẽ kết thúc khi có quyết định đình chỉ vụ án.

Khái niệm về thực hành quyền công tố Trên cơ sở khái niệm quyền công tố, khái niệm thực hành quyền công tố cũng được đưa ra tương đối nhiều. Theo Từ điển tiếng Việt, “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tế, thực hành đồng nghĩa với “thực hiện”” [33, tr. Như vậy, THQCT có thể được hiểu là áp dụng 12 quyền công tố vào thực tế. THQCT cũng được hiểu là “hoạt động của VKS trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội và buộc tội họ trước Tòa án” [8, tr.

Từ điển Luật học đưa ra khái niệm, “THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” [26, tr. Như vậy, để đảm bảo thực hiện quyền công tố trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm thì Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định cụ thể các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố. Các quyền năng này được giao cho cơ quan có trách nhiệm THQCT thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Từ năm 1960 đến nay, VKSND là cơ quan duy nhất được giao chức năng THQCT.

Để thực hiện chức năng này, VKSND phải sử dụng tất cả quyền năng pháp lý về TTHS nhằm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội cũng như không làm oan người vô tội. Luật Tổ chức VKSND năm 2014 cũng đã có quy định về bản chất của chức năng này, theo đó, THQCT “là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [18, tr. Phạm vi THQCT là vấn đề hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong thực tiễn. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, phạm vi THQCT chỉ có trong lĩnh vực TTHS.

Công tác này được “bắt đầu từ khi vụ việc phạm tội xảy ra và trong suốt quá trình điều tra đến khi kết thúc việc buộc tội” [8, tr 13].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thực Hành Quyền Công Tố Trong Vụ Án Cố Ý Gây Thương Tích Tại Quận 9, TP.HCM" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình thực hành quyền công tố trong các vụ án hình sự, đặc biệt là những vụ án liên quan đến cố ý gây thương tích. Tài liệu này không chỉ phân tích các khía cạnh pháp lý mà còn nêu rõ vai trò của các cơ quan tố tụng trong việc bảo vệ quyền lợi của nạn nhân và đảm bảo công lý. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức thực hiện quyền công tố, từ đó nâng cao hiểu biết về quy trình pháp lý và các quyền lợi liên quan.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học thủ tục về những vụ án mà bị can bị cáo là người chưa thành niên trong luật tố tụng hình sự việt nam. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý liên quan đến những đối tượng đặc biệt trong hệ thống tư pháp hình sự. Mỗi tài liệu đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các vấn đề pháp lý quan trọng trong xã hội hiện nay.