Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1. Khái niệm - Phạm vi - Đặc điểm của thực hành quyền công tố 1. Khái niệm - Phạm vi Khái niệm về quyền công tố: Chế định VKS được quy định trong pháp luật Việt Nam đã từ rất lâu nhưng cho đến Hiến pháp năm 1980 thì thuật ngữ “thực hành quyền công tố” với tư cách là chức năng của Viện kiểm sát mới được chính thức ghi nhận. Từ thời điểm đó, khái niệm quyền công tố và THQCT đã được nghiên cứu, đề cập khá nhiều trong khoa học pháp lí nước ta dưới các góc độ khác nhau.
Song, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức đối với vấn đề này, chưa có một quan điểm thống nhất khi bàn về quyền công tố. Theo Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, công tố có nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án" [34, tr. Theo đó, công tố bao gồm cả hoạt động điều tra và truy tố, buộc tội kẻ phạm tội trước Tòa án. Theo Từ điển Luật học, công tố “là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”[26, tr.
Ở Việt Nam hiện nay, quyền công tố được Nhà nước giao cho VKS thực hiện. Trên cơ sở đó có thể hiểu, “quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội”[26, tr. Trong giới nghiên cứu khoa học, khái niệm quyền công tố được đưa ra tương đối nhiều nhưng có thể kể đến một số quan điểm chính sau: Quan điểm thứ nhất: “Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hiện quyền công tố)” [21, tr. Như vậy, theo quan điểm này, quyền công tố 9 chỉ tồn tại trong lĩnh vực hình sự, đó là quyền của Nhà nước truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa hình sự (duy trì quyền công tố).
Và ở Việt Nam, quyền này được giao cho chủ thể duy nhất là VKSND. Điều này đồng nghĩa với việc công tác thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là TTHS và công tác này cũng chỉ tồn tại ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm. Quan điểm này chưa phản ánh đầy đủ bản chất của quyền công tố. Bởi lẽ, truy tố và buộc tội chỉ là một trong số các quyền năng, hoạt động của VKS ở giai đoạn xét xử sơ thẩm trong TTHS.
Ngoài hai quyền năng đó, VKS còn có nhiều quyền năng khác khi THQCT ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự và ở các giai đoạn khác trong TTHS. Quan điểm thứ hai: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội”[21, tr. Theo quan điểm này, chủ thể THQCT không chỉ có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác như CQĐT, Tòa án, Thi hành án. Như vậy, quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án đối với các vụ án hình sự.
Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc TTHS, dẫn đến nhầm lẫn giữa các chức năng cơ bản trong TTHS (buộc tội, gỡ tội, xét xử …). Quan điểm thứ ba: “Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là VKS ) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [21, tr. Cụ thể, cơ quan có chức năng THQCT có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để có thể xác định một cách chính xác tội phạm, người phạm tội và trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can 10 ra trước Tòa án cũng như bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa.
Bên cạnh đó, theo quan điểm này thì cơ quan có quyền công tố được phép nhân danh Nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và quyền này chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là trong TTHS. Ở Việt Nam, VKS ND là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao quyền công tố mà không có bất kỳ cơ quan nào có thể thay thế được. Có thể nói rằng, cho đến nay, khi đưa ra khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm khác nhau. Mỗi quan điểm đều có những yếu tố hợp lý nhưng cũng đều thể hiện những bất cập nhất định.
Với nhận thức của mình khi nghiên cứu về vấn đề này, tác giả ủng hộ khái niệm quyền công tố được đưa ra tại quan điểm thứ năm nêu trên, bởi một số lý do sau: Một là, quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền thống ở Việt Nam khi nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố. Theo đó, quyền công tố là quyền của Nhà nước buộc tội đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Hai là, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ về quyền công tố. Cụ thể, Hiến pháp, Luật tổ chức VKS ND và pháp luật tố tụng hình sự của nước ta qua các thời kỳ đều khẳng định VKSND có chức năng THQCT.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị cũng đã nêu rõ: "VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp [1, tr. Bên cạnh đó, quan điểm của ngành Kiểm sát cũng đã thể hiện một cách thống nhất từ trước đến nay: "Việc THQCT chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử" [23, tr. Phạm vi quyền công tố Về phạm vi không gian: dựa trên quan điểm chính thống về khái niệm quyền công tố được đưa ra ở trên có thể khẳng định rằng quyền công tố chỉ có 11 trong lĩnh vực TTHS mà không thể có trong lĩnh vực tố tụng khác. Theo đó, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội.
Việc buộc tội thì chỉ có trong lĩnh vực TTHS, cho nên quyền công tố không thể tồn tại trong các lĩnh vực khác không liên quan đến sự buộc tội như trong tố tụng hành chính, dân sự, kinh tế,. Vì lẽ đó, quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực duy nhất có liên quan đến tội phạm và sự buộc tội là lĩnh vực TTHS. Về phạm vi thời gian: theo quan điểm khoa học được thừa nhận phổ biến hiện nay, “phạm vi quyền công tố bắt đầu có từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị” [21, tr. Tác giả cho rằng quan điểm này rất đúng đắn.
Bởi lẽ, từ khi tội phạm được thực hiện, trách nhiệm của cơ quan được giao quyền công tố là tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện tội phạm và người phạm tội cũng như xác định căn cứ để buộc tội họ. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp THQCT đều kéo dài đến khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mà có thể chấm dứt ở giai đoạn tố tụng sớm hơn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bởi vì, không phải tất cả các vụ án hình sự đều được đưa ra xét xử trước Tòa án mà ở giai đoạn tố tụng nào đó khi quyền công tố chấm dứt thì quyền THQCT cũng không còn. Như vậy, phạm vi quyền công tố kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt, nó sẽ kết thúc khi có quyết định đình chỉ vụ án.
Khái niệm về thực hành quyền công tố Trên cơ sở khái niệm quyền công tố, khái niệm thực hành quyền công tố cũng được đưa ra tương đối nhiều. Theo Từ điển tiếng Việt, “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tế, thực hành đồng nghĩa với “thực hiện”” [33, tr. Như vậy, THQCT có thể được hiểu là áp dụng 12 quyền công tố vào thực tế. THQCT cũng được hiểu là “hoạt động của VKS trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội và buộc tội họ trước Tòa án” [8, tr.
Từ điển Luật học đưa ra khái niệm, “THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” [26, tr. Như vậy, để đảm bảo thực hiện quyền công tố trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm thì Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định cụ thể các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố. Các quyền năng này được giao cho cơ quan có trách nhiệm THQCT thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Từ năm 1960 đến nay, VKSND là cơ quan duy nhất được giao chức năng THQCT.
Để thực hiện chức năng này, VKSND phải sử dụng tất cả quyền năng pháp lý về TTHS nhằm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội cũng như không làm oan người vô tội. Luật Tổ chức VKSND năm 2014 cũng đã có quy định về bản chất của chức năng này, theo đó, THQCT “là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [18, tr. Phạm vi THQCT là vấn đề hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong thực tiễn. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, phạm vi THQCT chỉ có trong lĩnh vực TTHS.
Công tác này được “bắt đầu từ khi vụ việc phạm tội xảy ra và trong suốt quá trình điều tra đến khi kết thúc việc buộc tội” [8, tr 13].