CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ 1.1 Khái quát chung về thừa kế thế vị 1.1 Khái niệm về thừa kế thế vị Chế định về thừa kế là một chế định lớn được ghi nhận trong Hiến pháp và cả trong Bộ luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ. Có thể thấy, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta thừa nhận và bảo vệ quyền thừa kế của công dân. Hiến pháp 2013 quy định rõ tại khoản 2 Điều 32: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.
Trên tinh thần cụ thể hóa Hiến pháp, pháp luật thừa kế hiện hành tại Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2005 đã khẳng định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Các điều luật trên minh chứng rằng pháp luật về thừa kế là một nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta. Vậy chúng ta hiểu như thế nào về khái niệm thừa kế ? Theo đó, “Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống. Thừa kế luôn gắn với sở hữu.
Sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế là phương tiện duy trì, củng cố quan hệ sở hữu. Pháp luật quy định hai hình thức: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật”1. Cụ thể, thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống theo ý nguyện của người để lại di sản trước khi chết thể hiện qua di chúc. Ngược lại, thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
Thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản được thực hiện trong các trường hợp: không có di chúc, di chúc không hợp pháp, những người thừa kế theo di chúc đều đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc, phần di sản liên quan đến di chúc không hợp pháp; phần di sản liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; phần di sản có liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc nhưng không tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; phần di sản của người từ chối quyền hưởng di sản, bị 1 Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, NXB Tư pháp và NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. 754 8 tước quyền hưởng di sản. Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật được xác định trên cơ sở quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng.
Những người trong diện thừa kế được xếp thành ba hàng thừa kế. Thừa kế chỉ chia cho một hàng theo thứ tự ưu tiên 1, 2, 3, mỗi người trong cùng hàng thừa kế được hưởng suất bằng nhau. Tuy nhiên, đến đây tác giả mới chỉ làm rõ được khái niệm về thừa kế, còn khái niệm về thừa kế thế vị thì hiểu như thế nào cho đúng? Điều 677 Bộ luật dân sự năm 2005 đã ghi nhận quyền hưởng thừa kế thế vị của công dân như sau “trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”. Bằng việc ghi nhận Điều 677 tại chương XXIV của Bộ luật dân sự năm 2005 về thừa kế thế vị, đã cho chúng ta thấy được thừa kế thế vị là một trường hợp của thừa kế theo pháp luật.
Ngoài ra, việc ghi nhận quyền hưởng thừa kế thế vị của cháu, chắt của người để lại di sản khi cha, mẹ của họ chết trước ông bà đã cho thấy đây là một quy định mang tính nhân văn sâu sắc; bởi về nguyên tắc trong trường hợp thừa kế theo pháp luật, nếu con chết trước cha, mẹ ruột của mình thì người đó không được hưởng di sản của cha, mẹ ruột mình, tuy nhiên Điều 677 Bộ luật dân sự năm 2005 lại ghi nhận quyền hưởng thừa kế của cháu, chắt trong di sản của ông bà ngay cả khi cha, mẹ của họ chết trước ông bà. Bên cạnh đó, người hưởng thừa kế thế vị hưởng suất thừa kế tính theo chi, thứ bậc chứ không theo hàng thừa kế, đây cũng chính là điểm khác biệt giữa thừa kế thế vị so với thừa kế theo hàng thừa kế2. Tác giả xin đưa ra ví dụ minh họa sau sẽ cho chúng ta hiểu rõ hơn về thừa kế thế vị: A có hai con là X và Y. Y chết trước A, và Y có ba con là E, F và G.
Khi A chết thì X vẫn còn sống và X có hai con là C, D. Áp dụng Điều 677 Bộ luật dân sự năm 2005, thì di sản của A sẽ được chia 1/2 cho X, và 1/2 di sản còn lại sẽ chia đều cho các con của Y, do Y chết trước A nên các con của Y sẽ thế vị Y nhận di sản của A. Cụ thể E, F, G mỗi người nhận được 1/6 di sản, tức suất hưởng thừa kế thế vị được chia theo chi và thứ bậc mà 2 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật dân sự Việt Nam, Đại học quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh, tr.140-160 9 không chia đều theo hàng thừa kế, tương tự nếu Y có nhiều hơn ba người con thì 1/2 di sản của A sẽ chia đều cho số con mà Y có.
Bàn thêm về định danh cho trường hợp thừa kế thế vị thông qua ví dụ trên, hiện tại có nhiều tác giả định danh khác nhau cho trường hợp thừa kế thế vị. Trong đó có quan điểm cho rằng E, F, G được gọi là người được thừa kế thế vị và Y được hiểu là người thế vị3; tuy nhiên có quan điểm lại cho rằng Y mới chính là người được thế vị và E, F, G được gọi là người thế vị4. Như vậy, hiện nay chúng ta chưa có cách gọi tên thống nhất cho các bên trong quan hệ thừa kế thế vị. Tác giả cho rằng, chúng ta nên có văn bản hướng dẫn cho cách định danh về trường hợp thừa kế thế vị nhằm tránh gây nhầm lẫn và khó hiểu cho người đọc về sau, cụ thể: A được gọi là người để lại di sản Y được gọi là người được thế vị E, F, G được gọi là người thế vị hay người thừa kế thế vị Bởi theo tác giả, do Y chết trước A nên các con của Y sẽ thế vị vào vị trí của cha, mẹ để hưởng di sản của ông, bà; vì vậy E, F, G nên được hiểu là người thừa kế thế vị và Y do chết trước A nên sẽ không được hưởng di sản của A, mà các con của Y sẽ nhận thay cha, mẹ nên Y được gọi là người được thế vị.
Như vậy, thông qua việc phân tích Điều 677 trong Bộ luật dân sự năm 2005 cùng ví dụ minh họa, thì khái niệm về thừa kế thế vị (Succession by representation) 3 Lê Minh Hùng (chủ biên) (2012), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế , NXB Hồng Đức, tr. 4 Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia,à Nội, tr. 10 có thể được hiểu “Thừa kế thế vị là việc con thay vị trí của cha hoặc mẹ để nhận thừa kế từ ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc cụ nội, cụ ngoại nếu cha, mẹ chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông, bà hoặc cụ. Phần di sản của người con (những người con) được hưởng trong di sản thừa kế của ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc cụ nội, cụ ngoại là phần di sản mà cha hoặc mẹ của người đó được hưởng, nếu không chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản”5.2 Đặc trưng của thừa kế thế vị 1.1 Thừa kế thế vị là một trường hợp của thừa kế theo pháp luật Thừa kế thế vị chỉ được đặt ra đối với phần di sản được chia theo quy định của pháp luật, không áp dụng đối với phần di sản được định đoạt theo di chúc.
Thật vậy, nếu người để lại di sản chủ động lập di chúc để định đoạt phần di sản của mình cho những người thừa kế của họ thì phần di sản ấy sẽ được chia theo ý nguyện mà họ đã định đoạt trong di chúc. Lẽ dĩ nhiên, thừa kế theo pháp luật và thừa kế thế vị trong trường hợp này không được đặt ra6. Điều 677 Bộ luật dân sự năm 2005 được ghi nhận trong chương XXIV về thừa kế theo pháp luật, điều này cho thấy người làm luật đã khẳng định thừa kế thế vị là một trường hợp của thừa kế theo pháp luật, nói đúng hơn là một trường hợp đặc biệt của thừa kế theo pháp luật, do có một số khác biệt nhau giữa Điều 677 so với Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005. Cụ thể: Xét về điểm giống nhau, cả thừa kế theo hàng thừa kế (do pháp luật quy định) và thừa kế thế vị đều có người thừa kế là những đối tượng cụ thể được liệt kê trong luật mà không phải là bất kỳ ai, tức giữa người để lại di sản và người thừa kế phải tồn tại một mối quan hệ nào đó trong ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng.
Xét về điểm khác nhau, nếu theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 về thừa kế theo hàng thừa kế theo pháp luật, thì chúng ta thấy rằng những người thừa kế được phân định làm ba hàng thừa kế dựa trên ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, hoặc nuôi dưỡng với những thứ tự ưu tiên hưởng di sản khác nhau tùy thuộc vào mức độ thân thuộc đối với người để lại di sản. Ngoài ra, suất 5 Lê Minh Hùng (chủ biên) (2012), tlđd số 3, tr. 6 Trần Thị Huệ (1997),”Thừa kế thế vị có đặt ra theo quy định tại Điều 646 và Điều 680 Bộ Luật Dân Sự không?