Chương 1 làm tiền đề giúp cho người đọc có thể hiểu rõ hơn những nội dung mà người viết truyền tải trong chương 2 và chương 10 do an CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC THU THẬP THÔNG TIN XÁC NHẬN TỪ BÊN NGOÀI TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2. Các thủ tục thu thập bằng chứng kiểm toán 2. Khái niệm bằng chứng kiểm toán Phần lớn lượng công việc của các kiểm toán viên trong một cuộc kiểm toán “ chính là thu thập bằng chứng kiểm toán, giai đoạn đánh giá các bằng chứng kiểm toán là cơ sở để đưa ra sản phẩm là các ý kiến kiểm toán rằng liệu các thông tin trên báo cáo tài chính có tuân thủ theo quy định của pháp luật hay không. Đánh giá chất lượng của một cuộc kiểm toán, cần phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng các bằng chứng kiểm toán được thu thập.
Vậy bằng chứng kiểm toán là gì?” “Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các tài liệu, thông tin này, kiểm toán viên đưa ra kết luận và từ đó hình thành ý kiến kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán bao gồm những tài liệu, thông tin chứa đựng trong các tài liệu, sổ kế toán, kể cả báo cáo tài chính và những tài liệu, thông tin khác;” (trích điều 5 khoản (c) trong VSA 500). Hoặc có thể tóm gọn khái niệm này như định nghĩa trong Luật Kiểm toán 2015: “Bằng chứng kiểm toán là tài liệu, thông tin do Kiểm toán viên nhà nước thu thập liên quan đến cuộc kiểm toán, làm cơ sở cho việc đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán.” Bằng chứng kiểm toán là các thông tin thu thập được thông qua các thủ tục “ kiểm toán từ các nguồn khác nhau, cả trong và ngoài đơn vị, như trong VSA 500 có đề cập, đó là “những tài liệu, thông tin chứa đựng trong các tài liệu, sổ kế toán, kể cả báo cáo tài chính ….” giúp ích cho kiểm toán viên trong việc đưa ra ý kiến kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của những thông tin tài chính, được trình bày trên báo cáo tài chính. Phân loại bằng chứng kiểm toán “Có rất nhiều cách để phân loại các bằng chứng kiểm toán vì bằng chứng kiểm toán được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bằng những cách thức khác nhau.
Tuy nhiên tùy thuộc đặc tính của mỗi cuộc kiểm toán mà các loại bằng chứng có khả năng ảnh hưởng đến ý kiến mà kiểm toán viên đưa ra, vì vậy kiểm toán viên nên đánh giá tính hữu hiệu của bằng chứng thu thập được để đưa ra ý kiến kiểm toán phù hợp nhất.” Bằng chứng kiểm toán có thể được phân loại dựa trên các tiêu chí như về nguồn gốc, về loại hình và về tính thuyết phục như sau: 2. Phân loại bằng chứng kiểm toán theo nguồn gốc hình thành “Phân loại dựa theo nguồn gốc của thông tin, tài liệu có liên quan đến Báo cáo tài chính mà kiểm toán viên thu thập được trong quá trình kiểm toán. Đối với trong doanh nghiệp được kiểm toán, kiểm toán viên có thể thu thập những bằng chứng kiểm toán được chính doanh nghiệp phát hành và lưu trữ nội bộ hoặc những bằng chứng không phải do doanh nghiệp phát hành nhưng được lưu trữ tại doanh nghiệp (như sổ cái, sổ chi tiết, hóa đơn mua hàng bán hàng, biên bản bàn giao,. Ưu điểm của loại bằng chứng này chính là giúp kiểm toán viên có thể tiết kiệm được thời gian và chi phí thu thập khi có sẵn tại doanh nghiệp.
Tuy nhiên rủi ro ở loại bằng chứng này cũng khá cao Do bằng chứng này có nguồn gốc từ nội bộ doanh nghiệp, nên chúng chỉ thực sự có độ tin cậy khi hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp có hiệu lực thực sự, do vậy tính thuyết phục của chúng không cao. Nếu như hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp không được quản lí chặt chẽ, dễ dàng xảy ra các trường hợp làm ảnh hưởng đến thông tin mà kiểm toán viên cần thu thập.” “Chúng ta có bằng chứng thu thập được do doanh nghiệp phát hành nhưng được lưu trữ ở bên thứ ba (ví dụ các ủy nhiệm chi, đơn bán hàng,.) hoặc bằng chứng do đơn vị ngoài doanh nghiệp được kiểm toán phát hành và tự lưu trữ (các bảng xác nhận số dư khoản phải thu hay số dư tài khoản ngân hàng, báo cáo phân tích của chuyên gia,.) Tương tự với bằng chứng kiểm toán từ bên ngoài. Do đem lại độ tin cậy và tính thuyết phục cao nên Kiểm toán viên thường ưu tiên lựa chọn những thông tin xuất phát từ 12 do an nguồn bên ngoài. Mặc dù vậy, Kiểm toán viên cần giữ thái độ hoài nghi nghề nghiệp, rủi ro gian lận chỉ giảm với trường hợp đảm bảo được tính độc lập của đơn vị cung cấp với doanh nghiệp được kiểm toán.” “Bằng chứng do Kiểm toán viên trực tiếp thu thập được qua quá trình kiểm kê, quan sát lại đạt được độ tin cậy cao nhất do được thực hiện trực tiếp bởi Kiểm toán viên.
Song nhiều lúc nó còn mang tính thời điểm tại lúc kiểm tra cho nên sẽ tùy thời điểm mà cho ra kết quả khác nhau, nếu như doanh nghiệp được kiểm toán cố tình che dấu và chỉ thực hiện đúng quy trình khi có mặt Kiểm toán viên thì có khả năng vẫn xảy ra rủi ro. Phân loại theo loại hình của bằng chứng kiểm toán “Độ tin cậy còn được đánh giá qua hình thức của bằng chứng: Bằng chứng dưới dạng văn bản, hình ảnh đáng tin cây hơn bằng chứng ghi lại từ lời nói. Việc phân loại bằng chứng theo loại hình bằng chứng bao gồm: - Bằng chứng dạng vật chất (như các biên bản kiểm kê, thư xác nhận,.) đây là bằng chứng mang lại tính thuyết phục khá cao. - Bằng chứng dưới dạng lời nói (thông qua phỏng vấn hay trình bày bằng lời những vấn đề thảo luận) mang tính thuyết phục không cao song lại càn sự am hiểu nhất định của người phóng vấn về vấn đề cần phỏng vấn.
- Bằng chứng dạng tài liệu gồm các tài liệu sổ sách, chứng từ kế toán từ doanh nghiệp dạng bằng chứng này có mức độ tin cậy cao tuy nhiên một số loại bằng chứng thì độ tin cậy lại tùy thuộc vào tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. - Thông thường trong bằng chứng dạng gốc thì đáng tin cậy hơn bản copy, bản fax hoặc các tài liệu được số hóa, chuyển thành dạng điện tử. Phân loại theo tính thuyết phục của bằng chứng kiểm toán “Việc phân loại bằng chứng như vậy nhằm giúp cho kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán phù hợp, Ý kiến của kiểm toán viên trong Báo cáo kiểm toán có mức độ tương ứng đối với tính thuyết phục của bằng chứng. 13 do an Bằng chứng có tính thuyết phục hoàn toàn là các bằng chứng do chính kiểm toán viên thu thập thông qua hình thức kiểm kê, đánh giá và quan sát.
Bằng chứng này được đánh giá là khách quan, chính xác và đầy đủ dựa vào đó mà Kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần. Bằng chứng có tính thuyết phục từng phần chủ yếu được thu thập từ sổ sách kế toán của doanh nghiệp, các biên bản họp, thư giải trình của Ban Giám đốc hay từ phỏng vấn nhân viên, quản lý của doanh nghiệp. Loại bằng chứng này xuất phát từ trong doanh nghiệp vì vậy để đảm bảo tính thuyết phục cao thì cần xem xét đảm bảo tính tồn tại và hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ. Bằng chứng không có giá trị thuyết phục là bằng chứng có thể do phỏng vấn người quản lý, ban quản trị là bằng chứng không có giá trị trong việc ra ý kiến, quyết định của kiểm toán viên về việc kiểm toán.
Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán Trong VSA số 500 có đề cập “Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về Báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán. Tiêu chí thích hợp “ Sự thích hợp của bằng chứng kiểm toán là tiêu chuẩn thể hiện chất lượng của bằng chứng, bao gồm sự phù hợp và độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán trong việc kiểm toán viên đưa ra các kết luận làm cơ sở hình thành ý kiến kiểm toán của mình. Mức độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán chịu ảnh hưởng bởi nguồn gốc, nội dung của bằng chứng và hoàn cảnh cụ thể mà kiểm toán viên đã thu thập được bằng chứng đó. Do đó, để xem xét vấn đề này, kiểm toán viên cần chú ý đến những nhân tố sau: Nguồn gốc của bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng có nguồn gốc càng độc lập với đơn vị sẽ có độ tin cậy càng cao.
Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị: Bộ phận nào có kiểm soát nội bộ hữu hiệu thì các bằng chứng kiểm toán có liên quan đến tài liệu kế toán, quy chế kiểm soát của bộ phận đó sẽ có độ tin cậy cao hơn. 14 do an Sự kết hợp của của các loại bằng chứng: Một nhóm bằng chứng kiểm toán thu thập từ các nguồn khác nhau, ở dang khác nhau nhưng cùng xác nhận về một vấn đề sẽ có độ tin cậy lớn hơn so với từng bằng chứng riêng lẻ. Ngược lại, bằng chứng từ các nguồn khác nhau lại cho kết quả trái ngược nhau thì kiểm toán viên cần phải xem xét vấn đề đó một cách thận trọng và phải thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán bổ sung để xác nhận lại vấn đề. Các nhân tố khác: Trong từng trường hợp cụ thể, độ tin cậy còn chịu ảnh hưởng bới rất nhiều nhân tố.
Ví dụ trong thủ tục phỏng vấn, sự hiểu biết của người được phỏng vấn về vấn đề đang tìm hiểu sẽ ảnh hưởng đến độ tin cậy của bằng chứng đạt được. Sự thích hợp của bằng chứng kiểm toán trong các thử nghiệm cơ bản còn đòi hỏi sự phù hợp giữa bằng chứng với các cơ sở dẫn liệu mà kiểm toán viên muốn xác minh. Bởi lẽ một bằng chứng kiểm toán có thê có độ tin cậy nhưng vẫn không thích hợp với cơ sở cần xem xét.