CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. Khái niệm và các hình thức đầu tư nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư nước ngoài Đầu tư nước ngoài (Đầu tư quốc tế) là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định (Bùi Kim Yến 2009). Nhà đầu tư nước ngoài là những người đầu tư vào các doanh nghiệp bên ngoài đất nước của họ.
Các doanh nghiệp đang phát triển thường tìm kiếm các nhà đầu tư nước ngoài để tăng cường tài chính trong khi mở rộng sang các thị trường mới. Những khoản đầu tư này từ việc mua cổ phiếu sang các hợp đồng phức tạp ngoài thị trường chứng khoán. Đầu tư nước ngoài có thể bắt nguồn từ các nhà đầu tư cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ có trụ sở chính trên toàn thế giới (M. Về bản chất, đầu tư quốc tế là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa.
Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung cho nhau và hỗ trợ nhau trong chiến lược thâm nhập chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn nước ngoài hiện nay. Nhiều trường hợp, việc buôn bán hàng hóa ở nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, luật lệ để đi đến quyết định đầu tư. Đến lượt mình, việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư ở nước sở tại lại là điều kiện để xuất khẩu máy móc, vật tư nguyên vật liệu và khai thác tài nguyên của nước chủ nhà. Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, hợp thành những dòng chính trong trào lưu có tính quy luật trong liên kết hợp tác kinh tế toàn cầu hiện nay.
9 Sự phát triển của đầu tư quốc tế xuất phát từ một số tiền đề chủ yếu sau đây: Thứ nhất: Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư. Ngày nay quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh chóng, với quy mô và tốc độ ngày càng lớn, tạo nên một nền kinh tế thị trường toàn cầu, trong đó tính phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế dân tộc ngày càng gia tăng. Quá trình này càng diễn ra nhanh chóng sau thời kỳ chiến tranh lạnh đã chi phối thế giới trong nửa thế kỷ, làm cho các nền kinh tế dân tộc đều theo xu hướng mở cửa và theo quỹ đạo của nền kinh tế thị trường. Bằng chứng là hiện nay phần lớn các nước đều gia nhập tổ chức thương mại thế giới,chấp nhận xu hướng tự do hóa thương mại và đầu tư.
Trong điều kiện trình độ phát triển sản xuất, khả năng về vốn và công nghệ, nguồn tài nguyên, mức độ chi phí… ở các nước khác nhau, nguồn vốn đầu tư quốc tế với tư cách của loại hàng hóa đặc biệt tất yếu sẽ tuân theo những quy luật của thị trường vốn là chảy từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn theo tiếng gọi của lợi nhuận cao. Thứ hai: Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học – công nghệ và cách mạng thông tin đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các nước tạo nên sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia. Cách mạng khoa học – công nghệ đã tạo nên sự biến đổi nhanh chóng và kì diệu của thế giới. Thời gian từ khâu nghiên cứu phát triển đến ứng dụng sản phẩm rất nhanh chóng, chu kỳ sống của sản phẩm rút ngắn nhanh, sản phẩm hàng hóa ngày càng đa dạng và phong phú.
Đối với doanh nghiệp, nghiên cứu phát triển và đổi mới thiết bị có ý nghĩa sống còn cho sự tồn tại và phát triển. Đối với các quốc gia làm chủ và đi đầu trong khoa học công nghệ sẽ quyết định vị trí lãnh đạo chi phối hay phụ thuộc vào các nước khác trong tương lai. Thứ ba: Sự thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nước sở hữu vốn tạo nên “lực đẩy” đối với đầu tư quốc tế. 10 Trình độ phát triển kinh tế cao ở các nước công nghiệp phát triển đã nâng cao mức sống và khả năng tích lũy vốn của các nước này.
Điều đó, một mặt dẫn đến hiện tượng “thừa” tương đối vốn ở trong nước; mặt khác làm cho chi phí tiền lương cao, nguồn tài nguyên thiên nhiên thu hẹp và chi phí khai thác tăng lên dẫn đến giá thành sản phẩm tăng, tỷ suất lợi nhuận giảm dần, lợi thế cạnh tranh trên thị trường không còn. Chính những nguyên nhân này tạo động lực các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để giảm chi phí sản xuất, tìm kiếm thị trường mới, nguồn nguyên liệu mới nhằm thu lợi nhuận cao. Ngoài việc dịch chuyển, thiết bị sang đầu tư ở các nước khác để đổi mới thiết bị trong nước, việc đầu tư này còn cho phép kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm của doanh nghiệp ở các thị trường tiềm năng mới. Thứ tư: Nhu cầu vốn đầu tư phát triển để công nghiệp hóa của các nước đang phát triển rất lớn, tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Hiện nay, chênh lệch về trình độ phát triển của các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển ngày một tăng lên, nhưng do đòi hỏi sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải kết hợp chúng lại. Các nước tư bản phát triển không chỉ coi các nước đang phát triển là địa chỉ đầu tư hấp dẫn do chi phí thấp, lợi nhuận cao, thuận lợi cho việc dịch chuyển thiết bị, công nghệ lạc hậu mà còn thấy rằng sự thịnh vượng của các nước này sẽ nâng cao sức mua và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Các nước đang phát triển cũng trông chờ và mong muốn thu hút được vốn đầu tư, công nghệ của các nước phát triển để thực hiện công nghiệp hóa, khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. Đầu tư quốc tế là sự kết hợp lợi ích của hai phía.
Tuy nhiên trong điều kiện cung cầu vốn trên thị trường căng thẳng, sự cạnh tranh giữa các nước đang phát triển để thu hút vốn đầu tư ngày càng ác liệt thì việc tăng cường cải thiện môi trường đầu tư, có những chính sách ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài,… tạo nên thời kỳ các nhà đầu tư lựa chọn địa chỉ đầu tư chứ không phải ngược lại. Các hình thức đầu tư nước ngoài 1. Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistant – ODA) Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản tài trợ có hoàn lại (cho vay dài hạn với một số thời gian ân hạn và lãi suất thấp) của chính phủ, các hệ thống của tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế ( như Ngân hàng thế giới WB, ngân hàng phát triển Châu Á – ADB, quỹ tiền tệ quốc tế - IMF,…) dành cho chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ. Các cơ quan và tổ chức hỗ trợ phát triển nêu trên được gọi chung là đối tác viện trợ nước ngoài (Bùi Kim Yến 2009).
Hỗ trợ phát triển chính thức có các đặc điểm sau: Là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếp điều hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tuy nước chủ nhà có quyền quản lý sử dụng vốn ODA, nhưng thông thường danh mục dự án ODA phải có sự thỏa thuận với các nhà tài trợ. Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi. Tuy vậy, nếu quản lý, sử dụng vốn ODA kém hiệu quả vẫn có nguy cơ để lại gánh nặng nợ nần trong tương lai.
Các nước nhận vốn ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới được nhận tài trợ. Điều kiện này tùy thuộc quy định của từng nhà tài trợ. Chủ yếu dành hỗ trợ cho các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, giáo dục, y tế,… Các hình thức của hỗ trợ phát triển – ODA: - Hỗ trợ dự án: đây là hình thức đầu tư chủ yếu của ODA. Nó có thể bao gồm những hỗ trợ cơ bản cho các dự án cải thiện, nâng cấp hoặc xây dựng mới cơ sở hạ tầng như xây dựng đường, cầu cống, đê điều, bệnh viện, trường học,… và những hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho dự án như chuyển giao tri thức, 12 tăng cường cơ sở lập kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu lập luận chứng kinh tế - kỹ thuật của dự án, trợ giúp hoạch định chính sách… - Hỗ trợ phi dự án: chủ yếu là viện trợ chương trình đạt được sau khi ký các hiệp định với đối tác tài trợ dành cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, không cần xác định chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.
- Hỗ trợ cán cân thanh toán: bao gồm các khoản hỗ trợ tài chính trực tiếp bằng tiền hoặc hỗ trợ bằng hiện vật, hoặc hỗ trợ cho nhập khẩu. - Tín dụng thương mại: là những khoản tín dụng dành cho chính phủ các nước sở tại với các điều khoản “mềm” về lãi suất, thời gian ân hạn, thời gian trả dài nhưng có những ràng buộc nhất định. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) Là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại (Bùi Kim Yến 2009). Đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc điểm sau: Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi.
Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế. Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy theo tỉ lệ góp vốn của mình.