Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Một số khái niệm - Đầu tư Hiện nay có khá nhiều cách quan niệm khác nhau về đầu tư. Các tác giả Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển (2006) cho rằng “đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai”.
Quan niệm như vậy nhấn mạnh mục đích của đầu tư là thu được lợi ích trong tương lai. Nếu xét trên góc độ kinh tế, đầu tư là hy sinh tiêu dùng hiện tại để hy vọng có được thu nhập cao hơn trong tương lai, đối với các chủ thể trong nền kinh tế thì đó là tăng thêm lợi ích, giá trị cho họ còn đối với toàn bộ nền kinh tế thì đó là gia tăng giá trị cho toàn xã hội. Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam chỉ rõ đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Quan niệm như vậy chưa chỉ rõ được mục tiêu của các nhà đầu tu là sinh lợi.
Tuy nhiên, đến Luật Đầu tư năm 2014 của Việt Nam thì đã chỉ rõ đầu tư kinh doanh được hiểu là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Như vậy, dù có nhiều cách quan niệm và có thể có những điểm khác nhau nhất định nhưng nói đến đầu tư là nói đến việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình (như tiền vốn, tài 5 nguyên, lao động.) hoặc vô hình (như quyền sở hữu tài sản) để tiến hành một hay một vài hoạt động nào đó nhằm thu về phần kết quả lớn hơn so với phần vốn đã bỏ ra. - Đầu tư nước ngoài Với cách quan niệm về đầu tư như trên thì đầu tư nước ngoài được hiểu là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư nhằm thu lợi nhuận. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo UNCTAD (2001), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được định nghĩa là sự đầu tư với một quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể thường trú trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ) tại một doanh nghiệp trong một nền kinh tế khác không phải là nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp có vốn FDI hoặc doanh nghiệp chi nhánh hoặc cở sở chi nhánh ở nước ngoài).
FDI hàm ý nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể tới việc quản lý điều hành doanh nghiệp ở nền kinh tế khác. FDI có thể do các cá thể cũng như các chủ thể kinh doanh thực hiện. Dòng FDI bao gồm vốn do một nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các doanh nghiệp liên quan) cho một doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc là vốn nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo IMF, vốn FDI là vốn đầu tư thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư.
Mục đích là dành được tiếng nói có hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp đó. Quan niệm này nhấn mạnh chủ đầu tư là nước ngoài và việc đầu tư gắn liền với quyền kiểm soát quản lý. Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam xác định “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu 6 tư”, “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”, điều đó có nghĩa rằng FDI là hình thức nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Nói chung, các quan điểm trên đều thống nhất FDI là hình thức nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia vào công tác quản lý đầu tư với mục đích thu được lợi ích kinh tế.
Điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thức đầu tư khác là quyền kiểm soát, quyền quản lý đối tượng tiếp nhận đầu tư. Ở đây, nhà đầu tư chủ động trong việc sử dụng vốn đầu tư, khai thác nguồn nguyên liệu, lao động, các lợi thế, những ưu đãi từ nước nhận đầu tư để sản xuất kinh doanh, đồng thời, nhà đầu tư cũng hoàn toàn chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Tùy thuộc theo mục đích, loại hình sở hữu mà FDI được phân chia thành các loại khác nhau. Theo quy định của pháp luật về đầu tư của Việt Nam thì FDI được phân thành loại sau: * Thành lập tổ chức kinh tế bao gồm: Tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư và tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư ở nước nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài.
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp mà toàn bộ tài sản của doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam và tự quản lý cũng như tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh giữa bên (hoặc các bên) Việt Nam với bên (hoặc các bên) nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Với hình thức này có thành lập doanh nghiệp có tư cách pháp 7 nhân. Các bên liên doanh cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi ro tỷ lệ góp vốn của mỗi bên.
* Đầu tư theo các hình thức hợp đồng là hình thức đầu tư mà ở đó không thành lập pháp nhân mới, hoạt động dựa trên văn bản ký kết giữa các bên. Khi hết thời gian hiệu lực thì các bên không còn ràng buộc về mặt pháp lý. Bao gồm: - Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract, gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. Nhà đầu tư được kí kết hợp đồng BCC để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác.
Các điều khoản khác có liên quan về đối tượng, nội dung hợp tác, quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên, thời hạn kinh doanh, quan hệ hợp tác giữa các bên và các tổ chức quản lý do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng. - Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (Build-Operate – Transfer, gọi tắt là hợp đồng BOT) là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở nước nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định. Hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn hoặc với một giá chuyển giao không bồi hoàn hoặc với một giá tượng trưng công trình đó cho nước nhận đầu tư. - Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (Build Transfer, gọi tắt là hợp đồng BT) là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước ở nước sở tại và nhà đầu tư về việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng.
Chính phủ nước nhận đầu tư tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. 8 - Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (Build- Transfer- Operate, gọi tắt là hợp đồng BTO) là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước ở nước sở tại và nhà đầu tư về việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư sẽ chuyển giao cho nước nhận đầu tư khai thác công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và đảm bảo có lãi. Ngoài ra còn hình thức hợp đồng đối tác công tư (Public Private Partnerships, gọi tắt là hợp đồng PPP) là việc nhà nước và nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án.
* Đầu tư phát triển kinh doanh, bao gồm đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh; đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường. * Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư. * Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. * Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
Ngoài ra, theo tiêu chí mục đích đầu tư thì đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân chia thành: đầu tư theo chiều ngang và đầu tư theo chiều dọc. * FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI) là việc một công ty tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành sản xuất mà công ty đang có lợi thế cạnh tranh ở một loại sản phẩm nào đó. Mục đích của doanh nghiệp là mở rộng ra các thị trường nước ngoài, dần dần tiến tới thôn tính thị trường nước ngoài. Hiện nay, Mỹ và Nhật Bản đang dẫn đầu việc đầu tư này ở các nước đang phát triển.
* Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc (Vertical FDI) là hình thức đầu tư với mục đích của các nhà đầu tư nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và yếu tố đầu vào giá rẻ như lao động, đất đai và các nguồn lực khác ở nước tiếp nhận đầu tư.