Chương 1 LÝ LUẬN TỔNG QUÁT VỀ SỰ THỐNG NHẤT Ý CHÍ ĐỂ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 1. Khái luận về sự thống nhất ý chí 1. Bản chất và ý nghĩa pháp lý của hợp đồng Ở bất kỳ nền tài phán nào, người ta cũng đều thừa nhận: Hợp đồng là sự thống nhất ý chí nhằm làm phát sinh ra mối quan hệ pháp lý giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Mối quan hệ pháp lý ở đây có thể hiểu là quan hệ nghĩa vụ giữa các chủ thể bình đẳng hoặc mối quan hệ hành chính được phát sinh quan hệ hợp đồng hành chính.
Dù có nhận thức giống nhau về khái niệm hợp đồng như vậy, song cách thức định nghĩa về hợp đồng có sự khác nhau nhất định. Chẳng hạn: Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp tại Điều 1101 định nghĩa “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều chủ thể phải chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc vì lợi ích của một hay nhiều chủ thể khác”. Định nghĩa này nhấn mạnh tới đối tượng của hợp đồng. Bộ luật Dân sự Philippin tại Điều 1305 định nghĩa “Hợp đồng là sự thống nhất ý chí giữa các bên, mà theo đó mỗi bên tự ràng buộc mình trên cơ sở tôn trọng bên kia để đưa một cái gì đó hoặc trả cho một dịch vụ nào đó”.
Định nghĩa này chú ý tới hiệu lực ràng buộc của hợp đồng kết hợp với mục đích của sự ràng buộc. Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam tại Điều 388 định nghĩa “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Định nghĩa này thiên về hậu quả phát sinh từ căn cứ hợp đồng. Các định nghĩa trên tuy có cách thể hiện khác nhau phù hợp cách thức lập 6 z pháp của từng quốc gia, nhưng nói chung đều nói rõ bản chất của hợp đồng sự thỏa thuận hay sự thống nhất ý chí có hiệu lực pháp lý.
Các luật gia theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ thường đưa ra các định nghĩa hợp đồng ngắn gọn hơn, ví dụ: “Thực chất, hợp đồng là sự thỏa thuận mà tòa án cưỡng chế thi hành” [28, tr. Định nghĩa này gián tiếp nói tới hiệu lực pháp lý của hợp đồng. Trong khoa học pháp lý, hành vi pháp lý là một sự thể hiện ý chí nhằm làm phát sinh ra một hậu quả pháp lý, có nghĩa là làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi [4, tr. Hành vi pháp lý bao gồm hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương.
Hợp đồng có bản chất là sự thống nhất của các ý chí nhằm làm phát sinh hậu quả pháp lý. Còn hành vi pháp lý đơn phương là việc thể hiện ý chí của chỉ một người nhằm làm phát sinh hậu quả pháp lý. Đây là các căn cứ rất quan trọng để tạo lập quyền lợi. Trong thực tiễn đời sống xã hội, mỗi bên trong quan hệ hợp đồng thường theo đuổi những lợi ích nhất định của riêng mình.
Do đó hợp đồng chính là kết quả của sự dung hòa các lợi ích đối lập nhau giữa họ với nhau. Để có được lợi ích đó, các bên buộc phải có sự thỏa thuận. Hợp đồng là sự thống nhất ý chí để làm phát sinh một hệ quả pháp lý đặc biệt - đó là quan hệ nghĩa vụ mà trong đó có hai loại chủ thể khác nhau: người có quyền yêu cầu và người có nghĩa vụ. Trong quan hệ này người có nghĩa vụ phải thi hành nghĩa vụ của mình vì lợi ích của người có quyền yêu cầu.
Và người có quyền yêu cầu có quyền được thỏa mãn quyền yêu cầu của mình bằng sự đòi hỏi người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của họ vì lợi ích của chính mình. Việc thi hành nghĩa vụ bị cưỡng chế bởi pháp luật. Xuất phát từ đó có thể thấy, hợp đồng có hai vấn đề pháp lý cơ bản - đó là: (1) Hợp đồng là sự thống nhất của hai ý chí cá biệt; và (2) Sự thống nhất ý chí đó phải có giá trị pháp lý, có nghĩa là phải hội đủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật qui định. Khái niệm sự thống nhất ý chí Sự thống nhất ý chí hay còn gọi là sự thỏa thuận chính là sự gặp gỡ của hai hay nhiều ý chí được thể hiện ra bên ngoài.
Đây là yếu tố đầu tiên của hợp đồng. Không thể có hợp đồng nếu không có sự thỏa thuận giữa các bên. Thỏa thuận có thể là trực tiếp như gặp mặt, điện thoại, chat… hoặc gián tiếp như gửi thư qua bưu điện, fax… Sự thỏa thuận ở đây có nghĩa là cùng nhau thể hiện và trao đổi ý chí giữa các bên. Hợp đồng đòi hỏi sự thỏa thuận hay thống nhất ý chí được hình thành một cách hợp pháp, có nghĩa là đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật, bao gồm: (1) Sự thống nhất ý chí nội tại, tức là ý chí bên trong và sự thể hiện ra bên ngoài của các chủ thể; và (2) Ý chí của các bên gặp gỡ nhau.
Các điều kiện này cho thấy mọi nội dung thỏa thuận không phù hợp với ý chí thực của các bên có thể và cần phải dẫn đến việc không thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng. Trong khi đó ý chí là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần rất khó nắm bắt. Trong hợp đồng, có thể do nhận thức, hiểu biết, thậm chí do những mưu đồ riêng của một bên chủ thể, hay có thể do sự không rõ ràng của ngôn từ mà việc thực hiện hợp đồng đôi khi gặp phải khó khăn. Do đó, yếu tố thỏa thuận luôn được đặt ra và dễ gây tranh cãi nhất.
Hợp đồng là sự thỏa thuận, nhưng không phải bất cứ thỏa thuận nào cũng là hợp đồng. Và cũng không cần sự thỏa thuận trực tiếp mới có quan hệ hợp đồng. Thỏa thuận có thể ngầm định xét theo hoàn cảnh. Bởi vậy, hoàn cảnh, địa điểm và thời gian, các bên tham gia,… tất cả phải được xem xét gắn liền với thỏa thuận.
Điều này cũng được áp dụng khi xem xét hiệu lực của thỏa thuận. Ví dụ một thỏa thuận được đưa ra trong hoàn cảnh cấp bách, một trong các bên bị đe dọa về tinh thần… thì không thể được xem là một thỏa thuận hợp pháp 8 z và có hiệu lực thi hành. Một sự thỏa thuận hay thống nhất ý chí luôn luôn có hai thành tố là đề nghị và chấp nhận đề nghị. Do đó trong hợp đồng người ta luôn luôn xem xét tới đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Hai thành tố này của sự thỏa thuận có các tiêu chuẩn luật định. Tuy nhiên, hợp đồng chỉ được coi là hình thành khi đã đạt được sự thỏa thuận tại những điều khoản cơ bản. Các bên phải xác định được đâu là điểm mấu chốt của vấn đề, từ đó có sự thỏa thuận sâu vào những điều khoản đó, không nên thỏa thuận chung chung, thỏa thuận về những vấn đề thứ yếu, vừa không hiệu quả vừa làm mất thời gian của các bên. Một sự thỏa thuận hay một hợp đồng phải hướng tới những đối tượng nhất định.
Điều kiện quan trọng nhất mà các bên cần phải thỏa thuận trước hết cũng là đối tượng của hợp đồng, sau đó mới đi vào thỏa thuận các điều khoản còn lại. Tùy thuộc vào tính chất và nội dung của từng thỏa thuận cụ thể mà chủ đích của nó là khác nhau. Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Hồi giáo Iran qui định cụ thể: “Điều 214 Đối tượng của giao dịch nhất thiết phải là tài sản hoặc hành vi mà hai bên đồng ý giao hoặc thực hiện. Điều 215 Đối tượng của hợp đồng nhất thiết có khả năng được sở hữu và nhất thiết bao gồm lợi ích hợp lý và chính đáng.
Điều 216 Đối tượng của giao dịch không nên mơ hồ trừ trường hợp đặc biệt khi nhận thức chung về vấn đề này là đầy đủ”. Như vậy, chủ đích của sự thỏa thuận bao gồm tài sản hoặc hành vi. Tài sản có thể là tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình, hành vi có thể là công việc 9 z phải làm hoặc công việc không được thực hiện…Những tài sản hay hành vi đó phải là hợp pháp, được xác định cụ thể, đáp ứng được một lợi ích nào đó (vật chất hoặc tinh thần) cho chủ thể có quyền. Đây là nguyên tắc cơ bản mà bất cứ pháp luật của hệ thống nào cũng ghi nhận.
Một thỏa thuận hướng đến chủ đích như vậy sẽ làm phát sinh hậu quả pháp lý: xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong thỏa thuận; đáp ứng những nhu cầu hay lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia thỏa thuận. Đây là mục đích của thỏa thuận và cũng chính là cơ sở xác lập mục đích của hợp đồng. Mục đích này sẽ được biểu hiện thông qua chính nội dung của thỏa thuận và áp đặt lên các đối tượng mà thỏa thuận hướng tới. Khái niệm hợp đồng thương mại Người ta thường lấy việc phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại làm nền tảng cho việc phân biệt giữa luật dân sự và luật thương mại.
Thông thường luật thương mại là luật riêng điều tiết các loại hợp đồng thương mại trong sự so sánh với luật dân sự là luật chung chứa đựng các qui định áp dụng không chỉ riêng cho hợp đồng dân sự mà còn áp dụng cho cả các loại hợp đồng thương mại trong trường hợp luật thương mại không có qui định có thể áp dụng cho một hoặc một số tranh chấp phát sinh từ các loại hợp đồng này. Việc phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại có một số ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhất định. Vì vậy nó lý giải cho việc Unidroit (Tổ chức thống nhất luật tư của thế giới) đã cất công soạn thảo Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế (năm 1994 và năm 2004). Như trên đã lý giải hợp đồng là một loại hành vi pháp lý bên cạnh hành vi pháp lý đơn phương.
Do đó có thể hiểu hợp đồng thương mại là hành vi thương mại mà hành vi thương mại là hành vi pháp lý có tính cách thương 10 z mại [4, tr. Việc phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại nói chung cũng chính là nền tảng quan trọng để phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại.