đặt vấn đề quyền tài phán theo lãnh thổ. 10 Nhận thấy, “tố tụng trọng tài” là thuật ngữ pháp lý chính thức được sử dụng trong Luật TTTM nhưng không được định nghĩa. Điều 2 Nghị định thư Geneva năm 1923 về điều khoản trọng tài quy định tiếp cận gần với khái niệm của thuật ngữ tố tụng trọng tài, cụ thể: “Thủ tục tố tụng trọng tài bao gồm việc thành lập hội đồng trọng tài, sẽ được điều chỉnh bởi ý chí của các bên và bởi luật của quốc gia mà quá trình tố tụng trọng tài diễn ra”1. Điều khoản này thể hiện các bên tự do thỏa thuận về thủ tục tố tụng (có thể tự xây dựng hoặc chọn quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài), đồng thời bị giới hạn bởi các quy định bắt buộc của luật điều chỉnh tố tụng trọng tài (luật nơi tiến hành tố tụng trọng tài, được gọi là lex arbitri).
Ví dụ, theo khoản 1 Điều 10 Luật TTTM, nếu tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, không có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì bắt buộc ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng Việt. Thực tế, Luật Mẫu 2006 và pháp luật trọng tài của quốc gia chỉ quy định những nguyên tắc chung nhằm đảm bảo các bên được đối xử công bằng, hơn là những hướng dẫn chi tiết về tố tụng. Điều này có nghĩa, HĐTT và các bên cùng nhau thảo luận quy trình, thủ tục tố tụng nào là cần thiết cho vụ kiện thực tế2. Nhìn chung, tố tụng trọng tài sẽ được điều chỉnh bởi ý chí của các bên và bởi luật của quốc gia mà quá trình tố tụng trọng tài diễn ra.
Dưới góc độ giải thích từ ngữ, theo từ điển Hán - Việt, “tố tụng” là việc thưa kiện (procès), “tố tụng pháp lý” là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng (code deprocédure)3. “Thời Pháp thuộc, người ta dùng hai chữ “tố tụng” để dịch chữ “procedure” (chữ Pháp procédure hay chữ Anh procedure đều bắt nguồn từ chữ La tinh processus nghĩa là quá trình, trình tự, thủ tục), như hai bộ luật Bắc kỳ dân sự, thương sự tố tụng; Trung kỳ dân sự, thương sự tố tụng. Từ điển pháp luật Anh - Việt giải thích từ “procedure” nghĩa là thủ tục, phương cách5. Ở Pháp, theo quyển Bách khoa toàn thư Pháp (1994) và Từ điển Bách khoa Pháp (1999), thủ tục được định nghĩa “là toàn bộ những quy tắc phải theo, những phương pháp tiến 1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Pháp luật trọng tài thương mại, NXB Hồng Đức, tr.
2 Điều 14 (2) Quy tắc của Tòa án London về Trọng tài Quốc tế (LCIA) quy định: “Các bên có thể thỏa thuận để cùng đưa đề xuất cho việc thực hiện thủ tục trọng tài của mình lên để Hội đồng trọng tài xem xét. Các bên được khuyến khích thực hiện việc này với sự tham vấn của Hội đồng Trọng tài”. Trích theo Nigel Blackaby và các tác giả khác (2018), Trọng tài quốc tế - Ấn bản lần thứ Sáu, NXB Thanh niên, tr. 3 Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, tr.
Trích theo Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương (2013), Đặc san tuyên truyền pháp luật số 04/2013 chủ đề “Pháp luật về Tố tụng dân sự”, Hà Nội, tr. 4 Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương (2013), Đặc san tuyên truyền pháp luật số 04/2013 chủ đề “Pháp luật về Tố tụng dân sự”, Hà Nội, tr. 5 Từ điển pháp luật Anh – Việt (1992), NXB Khoa học xã hội Hà Nội, tr. 11 hành phải thực hiện đối với việc thiết lập một số quyền hay một số tình huống về pháp lý”6.
Trong xây dựng và nghiên cứu pháp luật, tố tụng được vận dụng vào lĩnh vực pháp luật để đặt tên cho ngành luật và được hiểu là thủ tục pháp luật quy định để giải quyết các vụ kiện ở Tòa án7. Theo một tác giả, “tố tụng trọng tài được hiểu là tổng hợp các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại trọng tài”8. Tóm lại, để phản ánh tố tụng trọng tài một cách khái quát và thể hiện đặc trưng của tố tụng trọng tài, có thể định nghĩa như sau: Tố tụng trọng tài là trình tự, thủ tục theo thỏa thuận của các bên và quy định của pháp luật cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Thuật ngữ “thủ tục tiền tố tụng trọng tài” Qua các thời kỳ lịch sử, thương lượng, hòa giải luôn tồn tại và trở thành phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống, phù hợp văn hóa trọng tình cảm của người Việt.
Trước đây, trong Bộ luật Gia Long (thời Nguyễn) quy định buộc cấp xã giải quyết các vụ việc nhỏ, các tranh chấp xích mích giữa các bên bằng hòa giải9. Điều 31 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 quy định đơn khởi kiện phải có nội dung “Quá trình thương lượng của các bên”. Điều 239 Luật thương mại 1997 quy định: “Tranh chấp thương mại trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên. […] Trong trường hợp thương lượng hoặc hoà giải không đạt kết quả thì tranh chấp thương mại được giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án”.
Nhận thấy, pháp luật Việt Nam từ lâu đời đã chú trọng việc các bên tự giải quyết bất đồng giữa họ trước khi đưa vụ kiện ra xét xử. Ngày nay, ngoài hoàn thiện hai hệ thống giải quyết tranh chấp Tòa án và trọng tài, Việt Nam đã ghi nhận cơ chế hòa giải ngoài tố tụng Tòa án như: Hòa giải ở cơ sở theo Luật Hòa giải ở cơ sở 2013; Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã theo Luật Đất đai 2013; Hòa giải các tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể (về quyền, lợi ích) theo Bộ luật Lao động 2019; Hòa giải thương mại theo Luật Thương mại 2005,. Trong đó, “hòa giải trước tố tụng đối với một số loại tranh chấp là thủ tục bắt buộc trước khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án (còn 6 Đậu Thế Tụng (2014), Các giải pháp để thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động của các trường đại học công lập ở Việt Vam, Luận án tiến sỹ, Học viện hành chính quốc gia, tr. 7 Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương, tlđd (4), tr.
8 Đào Văn Hội (2004), Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 9 Tòa án nhân dân tối cao (2019), Tờ trình về dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, Hà Nội, tr. 12 được gọi là thủ tục tiền tố tụng)”10, bao gồm: (i) Hòa giải tranh chấp đất đai (tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất) tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp11; và (ii) Hòa giải tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể về quyền tại Hòa giải viên lao động, trừ các tranh chấp lao động cá nhân không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải12. Hơn nữa, tại điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 quy định Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện nếu “Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó”. Như vậy, trong tố tụng Toà án, hòa giải tiền tố tụng như hai hình thức trên là thủ tục bắt buộc, là điều kiện khởi kiện do “pháp luật có quy định”. Có thể thấy, hoà giải tiền tố tụng vốn đã tồn tại trong pháp luật Việt Nam, nhưng hoà giải với tư cách là phương thức giải quyết tranh chấp độc lập, thay thế cho Toà án do các bên thoả thuận là một vấn đề có tính thời sự. Trên thực tế, “thủ tục tiền tố tụng” ngày càng tồn tại trong thỏa thuận giữa các bên tranh chấp.
Các bên thường thỏa thuận điều khoản giải quyết tranh chấp rằng trong khi phát sinh tranh chấp, trước hết các bên phải thương lượng, hòa giải với nhau, và chỉ khi nào các thủ tục này bất thành, các bên mới khởi kiện ra Tòa án hoặc trọng tài. Ví dụ từ Quyết định số 134/2017/QĐ-PT của Toà án nhân dân (TAND) cấp cao tại Hà Nội, nội dung thỏa thuận như sau: “Khi phát sinh tranh chấp […] sẽ cố gắng giải quyết tranh chấp đó thông qua thương lượng và hòa giải. […] Nếu không có quyết định hòa giải nào đạt được trong vòng 60 ngày […] thì các bên có thể đưa tranh chấp đó ra Trọng tài kinh tế hoặc Tòa án kinh tế”13. Theo một nhà bình luận, nội dung trên cho thấy “chỉ khởi kiện ra Tòa án khi thủ tục tiền tố tụng bắt buộc theo thỏa thuận không thành công, nên chừng nào thủ tục tiền tố tụng theo thỏa thuận chưa được triển khai thì chưa đủ điều kiện để khởi kiện ra Tòa án”14.
Có thể thấy, thuật ngữ “thủ tục tiền tố tụng” đã được sử dụng trong khoa học pháp lý để gọi chung các thủ tục, biện pháp để giải quyết tranh chấp thân thiện như thương lượng, hòa giải trước khi bắt đầu quá trình tố tụng tại cơ quan tài phán. 10 Tòa án nhân dân tối cao, tlđd (9), tr. 11 Điều 203 Luật Đất đai 2013. Xem thêm Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ Luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.
12 Điều 188, Điều 191, Điều 195 Bộ luật Lao động 2019. 14 Đỗ Văn Đại, tlđd (13), tr. 13 Trong tiếng Hán Việt, “tiền” có nghĩa là trước, mặt trước15. Căn cứ vào tính chất thời gian xảy ra trước khi có “tố tụng”, có thể gọi giai đoạn này là “tiền tố tụng” (hay giai đoạn trước tố tụng).
Trong giai đoạn tiền tố tụng, các bên thực hiện các thủ tục diễn ra trước quá trình tố tụng, có hoặc không bắt buộc. Theo cách diễn đạt vừa nêu, “tiền tố tụng trọng tài” là giai đoạn trước khi bắt đầu quá trình tố tụng trọng tài. Thông thường, một thông báo chính thức có tên gọi như thông báo ra trọng tài giải quyết, đơn khởi kiện sẽ được đưa ra để bắt đầu tố tụng trọng tài. Đối với trọng tài vụ việc, thông báo này được chuyển tới bị đơn; đối với trọng tài quy chế, thông báo được chuyển tới trung tâm trọng tài16.