phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về thoả thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh Chƣơng 2: Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với các thoả thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Chƣơng 3: Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật để điều chỉnh hiệu quả các thoả thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam 6 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN ẤN ĐỊNH GIÁ NHẰM HẠN CHẾ CẠNH TRANH 1. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT PHÁP LÝ VÀ YÊU CẦU ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC THOẢ THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH 1. Khái niệm, bản chất pháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 1. Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Thị trường là nơi trao đổi hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở sự ưng thuận giữa các bên tham gia trao đổi hàng hóa, dịch vụ.
Quan hệ trao đổi hàng hóa, dịch vụ trên thị thường được gọi là quan hệ thị trường. Thị trường có ba yếu tố chủ yếu là: (i) Người bán (người cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho thị trường hay còn gọi là bên cung) (ii) Người mua (người có nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ hay còn gọi là bên cầu) (iii) Hàng hóa, dịch vụ được trao đổi, mua bán trên thị trường. Thông qua việc trao đổi, mua bán trên thị trường, các nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế sẽ được dịch chuyển và được phân bổ giữa các thành viên trong xã hội. Vì vậy, thị trường là phương thức phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế và trong xã hội; trong nền kinh tế kế hoạch, sự phân bổ là không dựa vào sự ưng thuận giữa các bên còn cách phân bổ nguồn lực bằng quan hệ thị trường bao giờ cũng phải có sự ưng thuận giữa các bên tham gia trao đổi.
Quan hệ giữa các bên trong quan hệ thị trường là quan hệ ưng thuận nên việc phân bổ nguồn lực trong xã hội thông qua cơ chế thị trường luôn đảm bảo sự hài hòa về lợi ích giữa các bên tham gia quan hệ, quan hệ giữa các bên theo kiểu “win-win” (các bên đều thắng) [51, tr. Như vậy, nếu như có sự bình đẳng thực sự giữa người bán và người mua trong quan hệ thị trường, thì sự phân bổ nguồn lực bằng quan hệ thị 7 z trường sẽ đưa đến kết cục là nguồn lực sẽ đi đến những nơi được trả giá cao nhất và không đến những nơi mà nguồn lực đó bị trả giá thấp hơn. Trao đổi giao dịch trên thị trường không chỉ tạo ra sự hài hòa về lợi ích giữa các bên trong quan hệ, mà còn chính giữa các bên này với toàn xã hội. Về lý thuyết, người bán có quyền tự do quyết định mức giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình, tuy nhiên, để có thể bán được hàng hóa, dịch vụ, tức là để cho giá hàng hóa, dịch vụ có thể chấp nhận được từ phía người mua, người bán không thể quyết định giá bán cao bao nhiêu cũng được.
Khi có nhiều người bán cùng một loại hàng hóa, dịch vụ (có thể thay thế cho nhau), nếu một người bán định giá quá cao, người mua có thể từ bỏ ý định mua hàng hóa, dịch vụ đó và chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ của người bán khác. Nếu trong trường hợp chỉ có một người bán, việc định giá cao của người này sẽ thu được nhiều lợi nhuận, đây cũng là điều hấp dẫn để kêu gọi những người khác tham gia đầu tư sản xuất hàng hóa, dịch vụ để cạnh tranh với người bán đó. Quá trình cung – cầu trong nền kinh tế thực tế thường phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như số lượng người mua, người bán trên thị trường, tiềm năng của mỗi người mua, người bán đối với thị trường, những rào cản gia nhập thị trường, những điều này được gọi là cấu trúc thị trường. Theo cách hiểu thông thường, cạnh tranh là các hoạt động đối nghịch giữa các bên để có một lợi ích mà không thể tất cả mọi bên đều đạt được [52], còn thỏa thuận là việc các bên cùng thực hiện một công việc mà các bên đều được lợi thông qua việc thực hiện công việc đó.
Cạnh tranh thúc đẩy các bên phải cải tiến hàng hóa, dịch vụ của mình theo xu hướng ngày càng có giá rẻ hơn và chất lượng tốt hơn để giữ hoặc tăng thị phần mình đang có bằng cách đầu tư vào các nguồn lực mà mình nắm giữ. Như vậy, cạnh tranh sẽ là trò chơi “được - thua” trong khi thỏa thuận là các bên đều thắng. Vì vậy, các bên luôn có xu hướng tiến tới thỏa thuận với nhau để làm giảm áp lực chạy đua về 8 z cạnh tranh, tiết kiệm được chi phí đầu tư cải tiến và cuối cùng là thu lợi nhuận cao hơn. Trong kinh tế học, thỏa thuận nhằm hạn chế cạnh tranh được hiểu là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ.
Theo Từ điển Chính sách Thương mại Quốc tế, cartel là một thỏa thuận chính thức hoặc không chính thức để đạt được kết quả có lợi cho các hãng có liên quan nhưng có thể có hại cho các bên khác [54, tr. Dưới giác độ pháp lý, mặc dù các văn bản pháp luật về canh tranh ở trong và ngoài nước đều không đưa ra quy định khái niệm về thoả thuận hạn chế cạnh tranh, song từ các quy định về hành vi của các thoả thuận bị cấm đoán, có thể giải thích về nội hàm của các thoả thuận hạn chế cạnh tranh như sau: “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là sự thỏa thuận phối hợp hành động với nhau giữa các doanh nghiệp độc lập để thủ tiêu cạnh tranh giữa chúng, nâng cao vị thế của các thành viên tham gia thỏa thuận, cản trở sự tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh khác cũng như sự nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng mà không cần phải có sự nỗ lực phấn đấu trên thương trường” [10, tr. Giải thích này đã chỉ ra mục tiêu của các bên tham gia thỏa thuận nhằm đạt được là “nâng cao vị thế của các thành viên tham gia thỏa thuận, cản trở sự tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh khác…”, mà “không cần phải có sự nỗ lực phấn đấu trên thương trường”. Trong cuốn “Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và một số bình luận về Luật Cạnh tranh của Việt Nam”, thì thoả thuận hạn chế cạnh tranh được định nghĩa là: “Sự thoả thuận giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau về lợi ích kinh tế có mục đích hoặc tác động làm giảm hoặc bóp méo quá trình cạnh tranh trên thị trường.
Các doanh nghiệp tham gia thoả thuận có thể là đối thủ cạnh tranh với nhau trên thị trường (thoả 9 z thuận ngang) hoặc các doanh nghiệp thuộc các công đoạn khác nhau của quá trình kinh doanh từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng. Mỗi quốc gia khác nhau thường có quan niệm không hoàn toàn giống nhau về thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Ở những nghiên cứu khác, thoả thuận hạn chế cạnh tranh được mô tả ở dạng khái quát như sau: “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh (cartel) là hành vi cấu kết giữa hai hay nhiều doanh nghiệp để thủ tiêu sự cạnh tranh giữa chúng và ngăn cản sự tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh khác cũng như sự nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng. Về hình thức, cartel có thể được hình thành thông qua các hợp đồng, các nghị quyết, các thoả thuận ngầm giữa các doanh nghiệp.
Hiện nay, thông thường các cartel được thể hiện dưới dạng thoả thuận ngầm để tránh bị phát hiện và sự trừng phạt của pháp luật. Thoả thuận nhằm hạn chế cạnh tranh có thể hình thành theo chiều ngang hoặc chiều dọc của các quy trình kinh doanh” [48, tr. Hay trong cuốn sổ tay với tiêu đề “Hành vi hạn chế cạnh tranh - Một số vụ việc điển hình của Châu Âu” do Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (MULTRAP) và Bộ Công Thương Việt Nam phối hợp thực hiện, thì thoả thuận hạn chế cạnh tranh được định nghĩa là: “Những thoả thuận giữa các doanh nghiệp cạnh tranh nhằm ấn định giá hoặc sản lượng hoặc phân chia thị phần, khách hàng - thường được biết đến dưới tên gọi cartel - hoặc các thoả thuận theo đó các bên tham gia đấu thầu ấn định giá bỏ thầu hoặc thoả thuận trước doanh nghiệp sẽ thắng thầu - thường được biết đến dưới dạng đấu thầu thông đồng. Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh cũng bao gồm cả các thoả thuận dọc có tác động tiêu cực đến cạnh tranh như thoả thuận ấn định giá bán lại một sản phẩm nhằm ngăn cản nhà phân phối cung cấp ưu đãi cho khách hàng" [16, tr.
10 z Qua các nghiên cứu ở trên, có thể đưa ra khái niệm tổng quát về thoả thuận hạn chế cạnh tranh như sau: “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất ý chí giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau (gọi là các thành viên) để thực hiện các hành vi nhằm mục đích thủ tiêu hoặc hạn chế sự cạnh tranh giữa chúng và qua đó ngăn cản sự tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh khác cũng như của các doanh nghiệp tiềm năng”. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các đối thủ thiết lập ở nhiều quy trình khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hóa và nó cũng diễn ra ở các chủ thể tham gia thỏa thuận có vị trí khác nhau trong quá trình này. Dựa trên căn cứ đó, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể được chia là các loại sau đây: (i) Thỏa thuận giữa những người bán với nhau (thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường tiêu thụ); (ii) Thỏa thuận giữa những người mua (thông đồng đấu thầu); (iii) Thỏa thuận theo chiều ngang là những thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau trong cùng ngành hàng (thỏa thuận giữa những người bán, giữa các doanh nghiệp); (iv) Thỏa thuận theo chiều dọc là những thỏa thuận giữa doanh nghiệp ở các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa (thỏa thuận giữa doanh nghiệp với đại lý hoặc người bán lẻ hàng hóa của doanh nghiệp); 1.