Mở đầu: giới thiệu nhân vật (tên họ, quê quán, tính tình phẩm hạnh); b) Kể chuyện: kể các chuyện kì ngộ, lạ lùng; c) Kết thúc: nêu lí do kể chuyện. Các tác giả Việt Nam theo truyền thống truyền kì Trung Quốc, nhưng lại có một quá trình hình thành và phát triển gắn liền với nền văn hóa và văn học dân tộc, đặc biệt là với văn học dân gian và văn xuôi lịch sử” (Trần Đình Sử, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. Trong bài viết Truyền kì mạn lục dưới góc độ so sánh văn học (sách Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam), nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na cho rằng: Truyền kì nếu đứng riêng, là một thể tài của truyện ngắn trung đại.
Do các nhân vật, tình tiết, kết cấu… của truyện phần lớn là lạ kì đặc biệt, nên người ta gọi chúng là truyền kì. Nhưng đứng trong cụm từ “Truyền kì mạn lục” thì, “truyền kì” làm định ngữ, chỉ tính chất của thể “mạn lục” – một thể tự sự viết 9 tự do, tùy hứng theo ý đồ sáng tác của tác giả, không bị câu thúc bởi bất kì một lí do nào cả (Nguyễn Đăng Na, 2006, tr. Từ điển thuật ngữ văn học đã xác định tiểu thuyết truyền kì còn gọi là truyện truyền kì, là: thể loại tự sự ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc thịnh hành ở thời Đường. Tên gọi này đến cuối đời Đường mới có.
“Kì” nghĩa là không có thực, nhấn mạnh tính chất hư cấu (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi, 2011, tr.342) Có thể nói, sự xuất hiện của thể loại truyền kì đã góp phần giúp cho văn học nước ta phát triển phong phú, đa dạng hơn. Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về thể loại truyền kì nhưng nhìn chung đều làm nổi bật được yếu tố hoang đường, kì ảo của truyện. Thông qua những yếu tố ấy, các tác giả truyền kì đã gửi tới người đọc thông điệp thể hiện trong truyện. Truyện truyền kì vì vậy ngày càng trở nên gần gũi và khẳng định được giá trị của mình trong lòng độc giả.
Nguồn gốc và giá trị của thể loại truyền kì Có ý kiến cho rằng: Truyện truyền kì có nguồn gốc từ Trung Hoa và lan toả ảnh hưởng trong toàn khu vực đồng văn. Tuy nhiên, khi du nhập vào mỗi nước, tuỳ hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà chúng được biến đổi, tạo nên nét đặc sắc riêng cho mỗi dân tộc. Ngay từ khi xuất hiện, thể loại truyền kì đã khẳng định được vị trí của mình trong lòng độc giả. Cùng với thời gian, thể loại truyền kì ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn.
Nó không chỉ đơn thuần là những câu chuyện ghi chép đơn thuần mà đã được các tác giả thổi hồn thông qua việc đan xen yếu tố thơ và lời bình trong truyện như: Lĩnh nam chích quái(Trần Thế Pháp), Thánh Tông di thảo (Nặc danh thị), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ)… Ngay từ khi xuất hiện, thể loại truyện truyền kì Việt Nam đã góp phần không nhỏ tạo dựng nên vị thế của văn xuôi trung đại nước ta và có giá trị vô cùng quan trọng là thể hiện khát vọng, ước mơ của con người về cuộc sống công bằng, tự do. Xã hội không có sự đè nén của bè lũ thống trị đối với người dân khốn khó, không có cảnh chiến chinh chia cách, người phụ nữ có tiếng nói riêng và được coi trọng… Những câu chuyện trong truyền kì đều là những câu 10 chuyện hoang đường kì ảo với những thánh thần, ma quỷ tưởng như không có thật nhưng lại là lời tố cáo đanh thép hiện thực suy đồi, xuống cấp của một bộ phận xã hội phong kiến đương thời. Những câu chuyện trong các tác phẩm truyền kì cũng phê phán mạnh mẽ xã hội bất công trọng nam khinh nữ. Đồng thời, ngợi ca những bậc chính nhân quân tử hết mình vì nghĩa, những người phụ nữ rất mực thủy chung, hiếu nghĩa.
Đồng thời, mượn truyện truyền kì, các tác giả truyền kì còn muốn thể hiện niềm tự hào về cảnh đẹp, thiên nhiên đất nước và những nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc… Có thể khẳng định, thể loại truyền kì có đóng góp không nhỏ trong tiến trình phát triển văn học nước ta. Nó đã góp phần giúp cho văn học nước nhà phát triển phong phú, đa dạng, giàu cảm xúc hơn. Cùng với sự phát triển của thể loại, truyền kì đã đưa yếu tố thơ vào văn xuôi, giúp cho tác phẩm văn học trở nên trữ tình, mượt mà, tinh tế, diễn tả những điều tế nhị mà văn xuôi khó thể hiện. Cùng với sự phát triển thể loại đó, ta còn thấy được dụng ý và ý kiến tác giả trong truyện.
Có thể nói, truyền kì chính là sự khởi nguồn cho thể loại tiểu thuyết sau này. Chính vì những giá trị thể hiện trong câu chữ, ẩn sâu trong câu chữ và dụng ý khởi nguồn mà thể loại này ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong lòng độc giả và tiến trình phát triển của văn chương. Thơ và lời bình trong văn xuôi trung đại Trong lịch sử phát triển của văn học trung đại nước ta, ta thấy có hiện tượng các tác phẩm văn xuôi có sự đan xen thơ và lời bình trong truyện (Đặc biệt là ở các tác phẩm truyền kì). Việc kết hợp các hình thức thể loại là một đặc điểm loại biệt và cũng rất độc đáo của văn xuôi trung đại nước ta cũng như nhiều nước phương Đông.
Chúng ta từng chứng kiến trong thể loại tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa, một hình thức tự sự trường thiên mà trong đó có đan xen rất nhiều các bài thơ được đặt ở đầu các chương/ hồi cũng như khi khai thác tấm gương các gương anh hùng, liệt nữ trong tác phẩm. Điều này đã được hầu hết các nhà nghiên cứu đề cập tới như một sự tồn tại “nó là nó” của cấu trúc hình thức văn bản nghệ thuật. Nhìn chung, trong truyện kì ảo Việt Nam, sự đan xen 11 thơ và lời bình vào truyện khá đa dạng. Tất nhiên, cũng lại còn tùy thuộc vào từng thời kỳ cũng như tùy thuộc vào sự khác nhau ở từng tập truyện.
Trong mục này, chúng tôi chỉ tập trung bàn về sự xuất hiện của thơ và yếu tố lời bình trong văn xuôi trung đại. Thơ trong văn xuôi trung đại Thơ là những sáng tác có vần, có nhịp, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi vào lòng người và có nhiều lợi thế trong việc thể hiện yếu tố cảm xúc. Còn văn xuôi là những tác phẩm có nhiều lợi thế khi viết về nhưng chuyện diễn ra trong cuộc sống đời thường bằng những ngôn từ mang tính tự sự. Sự kết hợp thơ trong văn xuôi giúp hai thể loại này có thể bổ trợ linh hoạt khiến trong thơ có truyện, trong truyện có yếu tố trữ tình.
Trong dòng chảy của văn học, ta thấy có các tác phẩm như:Thiền uyển tập anh, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả…. Có sự thể hiện rất rõ yếu tố kết hợp thơ và truyện trong văn xuôi trung đại. Thơ chính là cách thể hiện tuyệt vời của tiếng lòng. Do vậy, trong việc thể hiện yếu tố cảm xúc, thơ có rất nhiều lợi thế so với văn xuôi.
Ví như khi thể hiện sự khổ đau, ủy khuất, tủi lòng thì ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ chính là sự lựa chọn tinh tế, hoàn thiện chỉ qua những hình ảnh, ngôn ngữ mang tính ước lệ tượng trưng: Một cành bỏ héo, một cành xuân (Truyền kì mạn lục) Hay khi thể hiện sự xa cách, mừng tủi khi vợ chồng lâu ngày tái ngộ chỉ với lời than thở, yêu thương: Lang quân hỡi lang quân Cách biệt ba mươi năm (Thánh Tông di thảo) 12 Trong tổng số 21 truyện của Thiền uyển tập anh, truyện có kết cấu độc đáo nhất theo hướng này chính là truyện về thiền sư Viên Chiếu. Toàn bộ truyện chỉ có khoảng nửa trang giới thiệu về nhân vật, quá trình học luyện, một đoạn ngắn kể trước tác, uy tín, ảnh hưởng của Sư cuối truyện; phần còn lại chiếm dung lượng chủ yếu của cả truyện chính là lời kệ được các bậc danh sư thể hiện bằng thơ giúp người nghe tỉnh ngộ. Ngoài ra, ở các tập truyện khác, hình thức những lời/ bài thơ ngắn gọn với dung lượng chỉ 2 đến 8 câu thơ còn giúp cho nhân vật và tác giả truyền đạt một tư tưởng, một điều linh ứng, báo trước nào đó của thần nhân, dị nhân, của quỷ thần trong vũ trụ, trời đất… đối với con người. Bằng hình thức cô đọng của lời thơ, các tác giả muốn gửi gắm tư tưởng về chính nghĩa sẽ thắng tà đạo, những anh hùng kiệt xuất, những kỳ tích của con người trong công cuộc chống xâm lăng đã thấu cảm cũng như đã nhận được sự trợ giúp của thần linh.
Một lợi thế nữa của hình thức thơ trong văn xuôi chính là góp phần quan trọng vào việc thể hiện những phương diện đa dạng trong đời sống tâm tư, tình cảm, cảm xúc, nội tâm… của nhân vật, những phương diện mà bằng lời kể tự sự không diễn đạt hết được. Bằng hình thức thơ ca, nhân vật đã có điều kiện thể hiện rõ hơn, cảm động và chân thực hơn cảm xúc của mình đối với ngoại cảnh cũng như đối với nhân vật khác, bày tỏ được những buồn khổ hay tiếc nuối về niềm vui, hạnh phúc thoáng qua. Trong nhiều tác phẩm văn xuôi trung đại, ta thấy sự xuất hiện của thơ đã hỗ trợ đắc lực cho nhân vật bày tỏ những tâm tư sâu kín, những khát vọng thường trực, những khổ đau, bất hạnh hay những lời ân nghĩa khắc cốt ghi tâm khó nói bằng lời. Một giá trị quan trọng khác không thể không nhắc tới của diễn đạt thơ/ phú trong truyện kì ảo chính là sự thể hiện những nội dung tế nhị, vốn bị coi là “cấm kị”, “miền cấm” trong thời trung đại.
Đó là các vấn đề liên quan đến tình yêu nam nữ, đặc biệt là liên quan đến nội dung tình dục, quan hệ xác thịt… Điều này, văn xuôi khó tránh được cách diễn đạt trực tiếp. Vì vậy, chỉ có thể bằng diễn đạt thơ. Chỉ có cách diễn đạt bằng thơ, các tác giả mới có điều kiện thể hiện 13 những nội dung này trong tác phẩm của mình. Trong số các tác giả truyện kì ảo Việt Nam thì Nguyễn Dữ là tác giả táo bạo và cũng là người thành công nhất.