đặt vấn đề khoa học hoá khoa châm cứu) người ta đã chứng minh rằng châm cứu còn trị được cả những chứng bệnh có vi trùng như sốt rét rừng, dịch tả. Những bệnh về thời khí, kinh niên nội tạng bị hư hao ít nhiều như dạ dày bị trụt, cả những bệnh sở quan đến tinh thần, si ngốc, điên cuồng. Những bệnh về tâm lý như đau nhức ở mặt vì lúc nhỏ bị nhiều sợ sệt khổ tâm (theo y án của Bác sĩ Kalma trong R.A số tháng 7, 8, năm 1959). Đau đầu, ói mửa vì gặp điều trái ý hay nổi giận dữ (theo y án của Bác sĩ Rebuelto trong tạp chí R.
Tuy nhiên, có những loại bệnh như ung thư, giang mai thì châm cứu chỉ đóng vai phụ trợ cho thuốc mà thôi. Nói chung, châm cứu đối với các loại bệnh đều giải quyết được nhất là những bệnh thâm nhiễm lâu ngày thì tác dụng của châm cứu rất nhanh. Phần trợ liệu của thang dược đối với châm cứu cần trong trường hợp cơ thể suy yếu. Ngược lại phần trợ liệu châm cứu đối với thang dược lại rất cần cho những trường hợp bệnh trạng quá nguy kịch mà dùng thuốc mạnh của thang dược vẫn giải quyết rất chậm.
Y học ngày này đã thống kê một số chỉ định dùng châm cứu chữa bệnh như sau: - Bệnh tâm - thần kinh: tâm căn suy nhược, đau thần kinh ngoại biên (đau thần kinh hông, thần kinh liên sườn, thần kinh tam thoa), tê liệt thần kinh (liệt mặt, liệt chi, liệt nửa người). - Bệnh tim mạch: rối loạn nhịp tim, co thắt mạch vành, cơn tăng huyết áp, hạ huyết áp, choáng. - Bệnh hô hấp: viêm amidan cấp, viêm thanh quản, ho do viêm phế quản, khó thở do hen, khản tiếng, mất tiếng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Bệnh tiêu hoá: nôn, nấc, ỉa chảy do rối loạn tiêu hoá, cơn đau do viêm loét dạ dạy-tá tràng, táo bón, đầy bụng chậm tiêu, trĩ giai đoạn I, II, sa trực tràng.
- Bệnh tiết niệu, sinh dục: bí đái cơ năng, tiểu đêm nhiều, đái dầm, thiểu năng sinh dục, di tinh, liệt dương, rối loạn kinh nguyệt, thống kinh. - Bệnh ngũ quan: đau răng, ù tai, giảm thích lực, điếc, câm, giảm thị lực, viêm mũi, rối loạn tiền đình, mẩn ngứa mề đay. - Đau sưng các cơ khớp hoặc teo cơ, cứng khớp. - Châm giảm đau, gây tê phẫu thuật.
Trong báo cáo của WHO trong việc thử nhiệm châm cứu trong điều trị trên 15 nhóm bệnh, đã thống kê được hơn 100 loại bệnh có thể sử dụng châm cứu. Trong đó một số loại bệnh điều trị bằng châm cứu có hiệu quả cao hơn so với sử dụng các phương pháp khác. Nhận thức về châm cứu của đông y và tây y Đông y là một khoa học cổ truyền của phương đông. Trước sự tiến bộ mạnh mẽ của Tây y, nếu đông y không có một cơ sở lý luận, một kinh nghiệm trị liệu căn bản thực tế đem lại sức khoẻ cho loài người thì đã bị Tây y thay thế từ lâu.
Đông y đặt mình trên cơ sở toàn là khí hoá cho nên dù lập luận theo phương pháp mới của Tây y: giải phẫu, sinh lý chẩn đoán, dược vật v. chúng ta cũng gặp toàn là khí hoá. Sự thật thì Đông y và Tây y mỗi bên có một nguyên lý, học thuyết khác nhau. Tuy nhiên, vì mục đích phục vụ cho nhân loại thì Đông y và Tây y có thể phối hợp mỗi bên một phương pháp sẽ giúp cho nhận loại rất nhiều lợi ích.
Đi theo giải phẫu sinh lý con người, chữa bệnh bằng cách dùng vật thể thay cho bộ phận của cơ thể hư, Tây y đã đạt đến trình độ cao theo nguyên tắc lý thuyết của họ nhưng vẫn chưa hoàn toàn thắng bệnh tật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Hiện nay một số Bác sĩ đã thấy y học ở Đông phương ngành khí hoá y hệt thuyết Hypocrate nên đã chú tâm nghiên cứu. Tây y có định hướng tìm hiểu kinh nghiệm của Đông y, Đông y sử dụng thiết bị máy móc hỗ trợ của Tây y, hai nền y học đó đang dần dung hòa. Học thuyết kinh lạc và quan niệm về huyệt 1.
Học thuyết Kinh lạc Học thuyết Kinh lạc, cũng như những học thuyết Âm dương, Ngũ hành, Tạng phủ, Dinh, Vệ, Khí, Huyết… là một trong những học thuyết cơ bản của y học cổ truyền. Học thuyết Kinh lạc đóng vai trò rất lớn trong sinh bệnh lý học cũng như trong điều trị của y học cổ truyền. Kinh lạc là những đường vận hành khí huyết. Những con đường này chạy khắp cơ thể, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, cả bên trong (ở các tạng phủ) lẫn bên ngoài.
Học thuyết kinh lạc đã quy nạp được một hệ thống liên hệ chặt chẽ giữa tất cả các vùng của cơ thể thành một khối thống nhất, thể hiện đầy đủ các học thuyết Âm dương, Tạng phủ, Ngũ hành, mối liên quan trong ngoài- trên dưới… Hệ kinh lạc bao gồm: - Mười hai kinh chính: + 3 kinh âm ở tay (Thủ tam âm): Thái âm Phế, Thiếu âm Tâm và Quyết âm Tâm bào. + 3 kinh dương ở tay (Thủ tam dương): Dương minh Đại trường, Thiếu dương Tam tiêu và Thái dương Tiểu trường. + 3 kinh âm ở chân (Túc tam am): Thái âm Tỳ, Thiếu âm Thận và Quyết âm Can. + 3 kinh dương ở chân (Túc tam dương): Dương minh Vị, Thái dương Bàng quang và Thiếu dương đởm.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Tám mạch khác kinh (kì kinh bát mạch): Nhâm mạch, Đốc mạch, Xung mạch, Đới mạch, Âm duy, Dương duy, Âm kiểu, Dương kiểu. - Mười bốn lạc và đại lạc của Tỳ. - Mười hai kinh cân nối các đầu xương ở tứ chi với phủ tạng. - Mười hai kinh biệt tách ra từ 12 kinh chính - Phần phụ thuộc gồm: tạng phủ, 12 kinh cân, 12 khu da.
Dưới đây là những hình ảnh mô tả về lộ trình một số đường kinh chính trong hệ thống kinh lạc. Kinh Phế (Lung) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kinh Đại trường (Large Intestine) Hình 1. Kinh Vị (Stomach) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Kinh Tỳ (Spleen) Hình 1. Kinh Tâm (Heart) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kinh Tiểu trường (Small Intestine) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kinh Bàng quang (Urinary Bladder) Hình 1.
Kinh Thận (Kidney) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kinh Tâm bào (Pericardium) Hình 1. Kinh Tam tiêu (Triple Heater) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kinh Đởm (Gall Bladder) Hình 1.
Kinh Can (Liver) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Theo Đông y, cơ thể con người được cấu tạo bởi: ngũ tạng, lục phủ, phủ khác thường, ngũ thể (da, lông, gân, cơ, móng), các màng (cách mô, màng phổi, màng tim, màng bụng, màng treo), ngũ quan, cửu khiếu, tinh, khí, thần và kinh lạc. Mỗi thành phần cấu tạo đều đảm trách một chức năng sinh lý của cơ thể. Tất cả những chức năng sinh lý này dù được chỉ huy bởi những thành phần khác nhau, riêng biệt nhưng lại liên hệ mật thiết với nhau và tạo nên tính thống nhất của cơ thể. Tình trạng "cơ thể thống nhất" này thực hiện được là nhờ vào hệ kinh lạc.
Có thể nói, kinh lạc là nơi tuần hoàn của khí huyết để nuôi dưỡng toàn thân, duy trì hoạt động sống bình thường của cơ thể. Bên trong thì nuôi dưỡng tạng phủ, bên ngoài thì nuôi dưỡng chân tay xương khớp, làm cơ thể thành một khối thống nhất. Về bệnh lý, có thể xem kinh lạc là đường xâm nhập của ngoại tà vào các tạng phủ. Ngược lại, bệnh ở tạng phủ có thể mượn hệ kinh lạc để biểu hiện ra bên ngoài.
Thông thường, biểu hiện của bệnh tật phụ thuộc vào thể chất của người bệnh (chính khí) và độc lực của tác nhân gây bệnh (tà khí), nhưng bắt buộc bệnh tật sẽ được biểu hiện bởi các triệu chứng đặc thù của kinh lạc mà nó mượn đường. Về chẩn đoán, nhờ vào kinh lạc, người thày thuốc có thể biết được biểu hiện của bệnh tật, kiểm soát các hệ thống chức năng của cơ thể, từ đó xác định được vị trí bệnh, phân biệt được trạng thái hư thực của bệnh và dự đoán các biến chứng có thể xảy ra. Trong điều trị, kinh lạc có vai trò dẫn thuốc cũng như dẫn truyền những kích thích của châm cứu đến những tạng phủ bên trong. Tính dẫn truyền những phương tiện điều trị của hệ kinh lạc là cơ sở của việc chọn huyệt theo lý luận đường kinh.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Hệ kinh lạc, với vai trò chức năng như trên, được xem là hệ thống giải phẫu-sinh lý của y học cổ truyền. Đóng vai trò cơ bản, quan trọng trọng trong hệ thống lý luận YHCT và chỉ đạo trong mọi chuyên khoa của YHCT. Khái niệm về huyệt trong y học cổ truyền Theo y học cổ truyền, Huyệt là nơi thần khí hoạt động vào - ra; nó được phân bố khắp phần ngoài cơ thể. Có thể định nghĩa huyệt là nơi khí của tạng phủ, của kinh lạc, của cân cơ xương khớp tụ lại, toả ra ở phần ngoài cơ thể.
Nói cách khác, huyệt là nơi tập trung cơ năng hoạt động của mỗi tạng phủ, kinh lạc…Huyệt nằm ở một vị trí cố định nào đó trên cơ thể người. Việc kích thích tại những huyệt vị này (bằng châm hay cứu) có thể làm những vị trí khác hay bộ phận của một nội tạng nào đó có sự phản ứng nhằm đạt được những kết quả điều trị mong muốn. Huyệt không những có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động sinh lý và các biểu hiển bệnh lý của cơ thể mà còn giúp chẩn đoán và phòng chữa bệnh một cách tích cực. Theo đông y, huyệt vị có nhiều tác dụng.
Về sinh lý, huyệt có quan hệ chặt chẽ với kinh mạch và tạng phủ mà nó phụ thuộc. Về bệnh lý, huyệt là cửa ngõ xâm lấn của các nguyên nhân gây bệnh từ bên ngoài. Khi sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm thì các nguyên nhân xấu bên ngoài dễ xâm lấn vào cơ thể qua các cửa ngõ này. Mặt khác, bệnh của các tạng phủ kinh lạc cũng được phản ánh ra ở huyệt: đau tự nhiên, ấn vào đau, màu sắc thay đổi, hình thái thay đổi.
Dựa vào những thay đổi này mà huyệt còn có tác dụng chẩn đoán bệnh. Huyệt còn là nơi tiếp nhận các kích thích khác nhau. Tác động nên huyệt với một lượng kích thích phù hợp có thể làm điều hoà được những rối loạn bệnh lý, tái lập lại hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể. Tác dụng điều trị này của huyệt tuỳ thuộc vào quan hệ giữa huyệt và kinh lạc tạng phủ.