phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương: Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát triển nhận thức tích cực, sáng tạo của học sinh. Chƣơng II: Thiết kế tiến trình dạy học các kiến thức về chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” (Vật lí 10) theo hướng phát triển nhận thức tích cực, sáng tạo của học sinh. Chƣơng III: Thực nghiệm sư phạm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Có thể nói, dạy học nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn không còn là vấn đề quá mới mẻ.
Cách đây 2500 năm, Khổng Tử đã quan niệm “học” trước hiểu là “bắt chước”, thứ hai “học” để cho biết, thứ ba “học” để làm. Sau Khổng Tử, nhiều nhà sư phạm lỗi lạc thế kỉ XVII cũng đã đưa ra những phương pháp dạy học bắt HS phải tìm tòi suy nghĩ để tự nắm bắt bản chất của sự vật - hiện tượng: J.Ruxô cho rằng phải hướng HS tích cực tự giành kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo; A.Distecvec thì cho rằng người GV tồi là người cung cấp cho HS chân lí, người GV giỏi là người dạy HS tìm ra chân lí. Ngày nay, xu hướng dạy học này đã trở thành xu thế chung của các nhà trường trên thế giới và trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các nhà trường Việt Nam. Khoản 2, điều 28 luật giáo dục Việt Nam ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Là một môn học mang tính ứng dụng cao, vì thế giảng dạy bộ môn Vật lí trong trường phổ thông càng phải tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu nêu trên. Đặc thù bộ môn đã cho thấy việc sử dụng thiết bị hỗ trợ dạy học để làm nổi bật bản chất của các hiện tượng Vật lí là rất cần thiết. Trong đó, thí nghiệm Vật lí đã được nhiều nhà sư phạm sử dụng như là một phương pháp dạy học tích cực. Vấn đề này được các tác giả trình bày trong công trình nghiên cứu, như: “Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học Vật lí ở trường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ phổ thông”.
Nguyễn Đức Thâm - Nguyễn Ngọc Hƣng (1999). “Chiến lược dạy học giải quyết vấn đề. Tổ chức, định hướng hoạt động tìm tòi sáng tạo giải quyết vấn đề và tư duy khoa học cho học sinh”. Phạm Hữu Tòng (2001).
Về nghiên cứu vận dụng lý luận vào dạy học ở phổ thông có: “Thiết kế tiến trình hoạt động dạy học các kiến thức về Lực ma sát theo SGK vật lý lớp 10 thí điểm ban khoa học tự nhiên nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ của học sinh trong học tập ”. Nguyễn Thị Hƣơng- ĐHSP Hà Nội (2004). “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh học nghề khi dạy một số kiến thức chương- Dòng điện trong các môi trường- lớp 11 Bổ túc văn hoá THPT” Lƣơng Thị Tâm - ĐHSP Thái Nguyên (2006). Các công trình này cho ta thấy trong dạy học vật lí việc sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp là điều rất cần thiết và không thể thiếu trong giảng dạy bộ môn vật lí.
Nó đã góp phần không nhỏ trong việc thực hiện tốt mục tiêu giáo dục, đã giúp học sinh nâng cao được tính tích cực, tự lực trong việc chiếm lĩnh tri thức. Tuy nhiên khi dạy học chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” (chương trình vật lí 10) làm thế nào để giúp học sinh phát huy được tính tích cực sáng tạo trong hoạt động nhận thức của học sinh thì chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể vì vậy chúng tôi quyết định nghiên cứu vấn đề này.2 Phát triển nhận thức tích cực, sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí 1.1 Tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh 1.1 Tính tích cực hoạt động nhận thức là gì ? TTC nhận thức trong hoạt động là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp thu tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập [32]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ TTC, nét tính cách rất quan trọng trong nhân cách thể hiện ở năng lực làm thay đổi thực tiễn, theo nhu cầu, mục đích của mình trong hoạt động sản xuất, học tập, sáng tạo, đấu tranh,… TTC cần phải được định hướng đúng đắn, phải nhằm phục vụ cho những mục đích tốt đẹp, cao cả, thì hoạt động của con người mới có giá trị đích thực, mới đem lại lợi ích cho bản thân và xã hội. Nét tính cách này cần được GD ngay từ bé bằng cách tạo ra những tình huống để trẻ em tự tìm cách thỏa mãn đòi hỏi, đôi khi người lớn có thể mách bảo, nhưng tránh lối làm thay khiến tạo dần cho trẻ tính ỷ lại, thụ động, chờ đợi.
Kết quả của mỗi lần tự làm như vậy sẽ động viên trẻ hăng hái tự lập giải quyết các nhu cầu của mình và dần dần chủ động tham gia vào công việc chung của gia đình, tập thể. Để duy trì liên tục TTC cần có sự theo dõi và đánh giá của người lớn và tập thể, kể cả khi việc làm thành công cũng như khi khó khăn, trở ngại. TTC nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức. Hạt nhân cơ bản của TTC nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng.
Nhu cầu nhận thức cái mới, nhu cầu vươn lên một trình độ cao hơn là nguồn gốc TTC hoạt động nhận thức của HS. TC là một biểu hiện của ý thức khi đã có ý thức thì HS sẽ TC, chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống. Trong học tập TTC nhận thức của HS đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức [32]. Tính “TC nhận thức” của HS theo Tiến sĩ I.
Kharlamop (Liên Xô cũ ) có thể được định nghĩa như sau: Nói chung, TTC là trạng thái hoạt động của các chủ thể, nghĩa là của người hành động. Vậy TTC nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Kết quả của việc học chỉ thực sự có được khi HS tích cực và chủ động tham gia vào quá trình DH. Cấu trúc của hoạt động học cùng với các yếu tố hợp thành cơ bản của nó có thể biểu diễn theo sơ đồ hình 1.
Nguồn kiến Hoạt động Kết quả của hoạt động thức nhận thức nhận thức Lời nói sinh Thái độ đối với việc Sự chú ý có chủ định, động của GV; học tập: nhu cầu, sự cần mẫn, tính ham kiến thức, hướng tâm hiểu biết, lòng say mê lí, tinh thần trách học tập. nhiệm… Hành động trí tuệ: Biểu tượng. a)“Lĩnh hội” tài liệu. Thực hiện công b)Thông hiểu tài tác thực hành và liệu.
Nắm vững sự kiện, làm T/N; c) Ghi nhớ kiến thức. SGK; d) Luyện tập vận Hình thành kĩ năng, kĩ Tài liệu khoa dụng kiến thức vào xảo. học; thực tiễn. Hoạt động thực e) Ôn tập, khái quát Hệ thống kiến thức và tiễn.
hoá và hệ thống hoá đào sâu kiến thức. tài liệu đã học. g) Tự kiểm tra. Phát hiện mức độ nắm vững kiến thức.
Sự phát triển chung của HS, hình thành quan điểm và niềm tin, phát triển năng khiếu và thiên tư.1: Cấu trúc của hoạt động học cùng với các yếu tố hợp thành cơ bản. Trong quá trình DH, khối lượng kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS tăng lên, tầm hiểu biết được mở rộng, quan điểm và niềm tin chính trị được hình thành. Khía cạnh đặc biệt quan trọng của sự phát triển là sự biến đổi về chất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ của bản thân hoạt động nhận thức và tư duy nói chung. Chỉ trong quá trình học tập TC, HS mới rèn được kĩ năng kiến thức, sự say mê học tập, và cả sự hoàn thiện những năng lực nhận thức chung và riêng.
Tất cả những cái đó dẫn tới việc hoàn thiện nhân cách nói chung, và làm phong phú thêm những nhu cầu nhân thức và tinh thần. Như vậy, việc học cần dựa trên nền tảng của hoạt động nhận thức TC của HS và đòi hỏi HS phải có thái độ và tinh thần TC như vậy.2 Những biểu hiện của tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh HS là chủ thể của quá trình học tập, chỉ thực sự đạt kết quả cao nếu HS là người có ý thức chủ động TC và sáng tạo. TTC ở đây là thái độ của HS muốn nắm vững kiến thức, hiểu sâu sắc nội dung học tập bằng mọi cách và cố gắng để vận dụng những hiểu biết ấy vào cuộc sống. TTC hoạt động nhận thức của HS được biểu hiện qua các dấu hiệu sau: - Có chú ý học tập không? - Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập hay không (thể hiện ở việc hăng hái phát biểu ý kiến, ghi chép.)? - Có hoàn thành những nhiệm vụ được giao không? - Có ghi nhớ tốt những điều đã được học không? - Có hiểu bài học không? - Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không? - Có vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn không? - Tốc độ học tập có nhanh không? - Có hứng thú trong học tập hay chỉ vì một ngoại lực nào đó mà phải học? - Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không? - Có sáng tạo trong học tập không? Về mức độ TC của HS trong quá trình học tập có thể không giống nhau, có một số dấu hiệu sau đây: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ - Tự giác học tập hay bị bắt buộc bởi những tác động bên ngoài (gia đình, bạn bè, xã hội).