CHƯƠNG 1. LẬP LUẬT KINH TẾ - KỸ THUẬT 1.1 Lập luận kinh tế 1.1 Tình hình trên thế giới Chanh leo là một loại trái cây nhiệt đới và được tìm thấy ở các nước như Brazil, Ecuador, Peru và Columbia. Chanh leo giải quyết mối quan tâm của người tiêu dùng đối với đồ uống lành mạnh và lạ miệng. Nước chanh leo được bán cho các nhà sản xuất nước trái cây và các nhà chế biến khác dưới dạng nước ép vô trùng (14-16 brix) hoặc cô đặc đông lạnh (50 brix).
Sản phẩm từ chanh leo chủ yếu được sử dụng để pha chế chanh leo và đồ uống trái cây hỗn hợp, thức ăn cho trẻ em và cũng đang phát triển phổ biến trong ngành công nghiệp sữa, với sự ra đời của sữa chua trái cây và kem. Nhu cầu về các loại trái cây xay nhuyễn bao gồm cả chanh leo ở Tây Âu đã tăng trưởng đáng kể. Sản lượng chanh leo Brazil là nhà sản xuất và tiêu thụ chanh leo tươi và chế biến lớn nhất thế giới, riêng Brazil đã chiếm hơn 50% tổng sản lượng thế giới. Tiêu thụ trong nước đối với sản phẩm xay nhuyễn làm từ chanh leo và việc sử dụng chanh leo trong đồ uống đã tăng đáng kể trong năm năm qua.
Mặc dù Brazil là nhà sản xuất lớn nhất, về thương mại, xuất khẩu của Brazil rất hạn chế. Xuất khẩu chanh leo nhuyễn chủ yếu tập trung ở Ecuador, Columbia và Peru.[1] Brazil đã sản xuất khoảng 593,4 nghìn tấn chanh leo trong năm 2019, giảm so với năm trước, khi sản lượng được báo cáo là gần 603 nghìn tấn. Con số này là sản lượng chanh leo thấp thứ hai trong cả nước trong giai đoạn 2013-2019. Peru là nước xuất khẩu chanh leo hàng đầu trên thế giới.
Năm 2020, nước này ghi nhận mức tăng sản xuất hơn 24% và xuất khẩu đạt 42,2 triệu USD. Nguồn cung của Peru chủ yếu được xuất khẩu dưới dạng nước ép cô đặc. Giá tại Lima thậm chí còn đạt + 26,48% YoY. Mặc dù giá thấp vào đầu năm cho đến tháng 7, nhưng giá trị của nó bắt đầu tăng lên khi bước sang tháng 9.
Trong tuần đầu tiên của tháng, nó đã đạt 0,41 USD/kg. Về tiêu thụ, thị trường chính của sản phẩm chanh leo là Bắc Mỹ (Mỹ và Canada), Châu Âu (Hà Lan, Đức và Anh), Nam Mỹ (Brazil, Chile, Argentina), Australia và một số nước Châu Á, Trung Đông (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Bahrain, Ả Rập Saudi và Kuwait). Từ 2015 - 2018, sản lượng và trị giá xuất khẩu chanh leo của Việt Nam đã tăng hơn 300%, tương ứng từ 95 nghìn tấn quả tươi/năm (2015) lên 300 nghìn tấn quả tươi (2018) và trị giá từ 19,6 triệu USD lên 66,2 triệu USD, đưa Việt Nam vào "top" 10 quốc gia xuất khẩu chanh leo lớn nhất trên thế giới, sau Brazil, Peru, Ecuador, …Vì vậy, việc xuất khẩu chanh leo và các sản phẩm từ chanh leo có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế nước nhà. Sản phẩm từ chanh leo Nước chanh leo cô đặc và nước ép chanh leo được chế biến từ chanh leo chín để giữ hương vị và màu sắc đặc trưng của cả trái.
Sản phẩm chế biến từ chanh leo có thời hạn sử dụng dài hơn và thuận hơn cho người tiêu dùng không có điều kiện tiếp cận với chanh leo tươi. Thị trường nước chanh leo cô đặc toàn cầu đạt giá trị 464,57 triệu USD vào năm 2019 và dự kiến đạt 668,83 triệu USD vào năm 2027; dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ là 4,7% từ năm 2020 đến năm 2027. Sản phẩm nước ép chanh leo có xu hướng tăng đều từ năm 2007 – 2017. Đại dịch Covid 19 bùng phát vào 12/2019 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội toàn cầu trong đó có ngành F&B.
Do việc cản trở giao thông dẫn đến đình trệ ngành xuất – nhập khẩu vì vậy nông sản là mặt hàng bị ứ đọng và chịu tổn thất nặng nề. Ngoài ra, trước diễn biến phức tạp của đại dịch thì con người càng quan tâm đến sức khỏe, có xu hướng tiêu dùng các sản phẩm bổ trợ, tăng cường sức đề kháng. Dựa vào các nguyên nhân này, việc chế biến nông sản trở thành các sản phẩm có thời hạn sử dụng lâu dài, giữ được chất dinh dưỡng đang là xu hướng hiện tại và trong tương lai.1 Giá trị các sản phẩm từ chanh leo 1.2 Tình hình Việt Nam Hiện nay, đẩy mạnh hội nhập, đưa hàng Việt nam xuất khẩu ra nước ngoài là mục tiêu chung của cả nước, trong đó, mặt hàng được đánh giá rất cao đó chính là chanh leo. Trong 5 năm qua, Việt Nam đã nổi lên như một quốc gia sản xuất và xuất khẩu chanh leo hàng đầu khu vực do điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất và nhu cầu gia tăng về chanh leo và các sản phẩm chế biến từ chanh leo trên thị trường quốc tế, đặc biệt là các thị trường cao cấp.
Do đó, tiềm năng xuất khẩu chanh leo của Việt Nam còn rất lớn. Hiện nay, cây chanh leo đã có mặt ở 36/63 tỉnh thành trong cả nước; trong đó có 5 tỉnh sản xuất lớn nhất, gồm Gia 2 Lai, Sơn La, Đắk Nông, Lâm Đồng và Đắk Lắk với diện tích trên 1000 ha/tỉnh (tổng cộng 9060 ha, chiếm hơn 86,3% chanh leo cả nước). Tổng diện tích chanh leo cả nước năm 2019 đạt khoảng 10,5 nghìn ha. Tổng sản lượng (quả tươi) ước đạt 222,3 nghìn tấn, có vị trí thứ 17 trong số các loài cây ăn quả có quy mô diện tích sản xuất lớn trên 10 nghìn ha ở nước ta.
Năng suất chanh leo bình quân cả nước đạt 20,32 tấn/ha (Tây Nguyên đạt 26,1 tấn/ha, Lâm Đồng 70 - 100 tấn/ha). Số liệu từ Cục xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương ước tính, xuất khẩu hàng rau quả trong tháng 10/2019 đạt 250 triệu USD, giảm hơn 8% so với tháng trước và giảm 14,2% so với cùng7kì7năm 2018. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 10/2019, xuất khẩu hàng rau quả ước đạt 3,067tỉ7USD, giảm 6% so với 10 tháng đầu7năm 2018.2 Biểu đồ lượng nhập khấu trái cây mã HS 081090 của EU năm 2019 – 2020. Theo báo cáo từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), xuất khẩu hàng rau quả tháng 8/2020 đạt 276 triệu USD, tăng 24,1% so với tháng 7/2020 và tăng 2,7% so với tháng 8/2019.
Trong 8 tháng đầu năm 2020, trị giá xuất khẩu hàng rau quả đạt 2,25 tỷ USD, giảm 11,5% so với cùng kỳ năm 2019. Có thể thấy rằng, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid – 19 dẫn đến ngành xuất khẩu các sản phẩm nông sản đã bị ảnh hưởng trong nửa đầu năm 2020. Nhưng đáng chú ý, sản phẩm chế biến là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai trong cơ cấu mặt hàng rau quả xuất khẩu và có trị giá xuất khẩu tăng mạnh trong 9 tháng đầu năm 2019.7Trong đó, chanh leo chế biến là mặt hàng xuất khẩu chiếm tỉ trọng cao và có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất, đạt 57,5 triệu USD, tăng 148,6% so với cùng kì năm 2018. Năm 2019, các sản phẩm chế biến từ chanh leo là mặt hàng nông sản xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao (trên 65% tổng giá trị chanh leo xuất khẩu) và có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất trong các loại trái cây (tăng hơn 50% so với 2018).
Sáu tháng đầu năm 2020, xuất khẩu chanh leo đạt 18,4 triệu, tăng 41% so với cùng kỳ 2019. 3 Chanh leo chế biến xuất khẩu chủ yếu tới một số thị trường chính như: Trung Quốc, Hà Lan, Mỹ, Đài Loan…7Trên thị trường thế giới hiện nay, chanh leo là một trong những loại trái cây có nhu cầu cao. Đối với chanh leo tươi có nhu cầu lên đến trăm nghìn tấn quả/năm, với nước ép chanh leo cô đặc khoảng trên 30. Về thị trường cho quả chanh leo, EU là nơi có lượng tiêu thụ lớn nhất, Cục Xuất nhập khẩu cho biết, hết 7 tháng đầu năm 2020, thị trường EU đã chiếm gần 50% giá trị kim ngạch xuất khẩu mặt hàng chanh leo của Việt Nam đi các nước.
Con số này minh chứng cho khả năng xuất khẩu lâu dài chanh leo nói riêng và mặt hàng hoa quả Việt Nam sang EU nhờ Hiệp định EVFTA.2 Lập luận kỹ thuật Điểm hạn chế của nhiều nhà máy sản xuất chế biến rau quả là khó khăn về nguồn nguyên liệu. Nguồn nguyên liệu không đủ đáp ứng cho sản xuất vì trở ngại vận chuyển, chi phí bảo quản cao. Vì thế việc xây dựng nhà máy chế biến nhất thiết phải chú trọng gần nguồn nguyên liệu, hoạc giao thông thuận tiện cho việc chuyên chở, đáp ứng đầy đủ nguồn nguyên liệu cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Các nguyên tắc lựa chon địa điểm xây dựng nhà máy: Gần vùng nguyên liệu Gần nguồn cung cấp năng lượng (than, điện, xăng, dầu …) Gần nguồn nước Gần nguồn cung cấp nhân lực Gần nơi tiêu thụ sản phẩm Giao thông thuận tiện Phù hợp với quy hoạch phát triển chung của quốc gia.
Vùng nguyên liệu: theo như phần lập luận kinh tế thì nguồn nguyên liệu chanh leo hiện tại được canh tác chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và khu vực các tỉnh Tây Nguyên vì có thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp với đặc tính sinh học của cây chanh leo.3 Bản đồ các tỉnh khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ Trong các tỉnh giáp ranh với khu vực Tây Nguyên thì tỉnh Đồng Nai là địa phương có nhiều khu công nghiệp nhất cả nước, là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm của cả nước. Phía Đông giáp với tỉnh Bình Thuận, Đông Bắc tiếp giáp với tỉnh Lâm Đồng, Tây Bắc giáp với Bình Dương và Bình Phước, phía Nam tiếp giáp với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và đặc biệt phía Tây tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh. Như đã phân tích ở trên Đồng Nai có nhiều lợi thế về giao thông thuận tiện và gần các thị trường tiêu thụ lớn cho các loại nước giải khát do đặc thù khí hậu. Vậy nên em quyết định chọn địa điểm xây dựng nhà máy chế biến rau quả ở khu công nghiệp Biên Hòa 2 – đây là một trong những khu công nghiệp hình thành sớm và có ảnh hưởng lớn đến kinh tế, khả năng thu hút của tỉnh Đồng Nai, giữ vị trí địa lý chiến lược, nó mang tới cho các doanh nghiệp những thuận lợi trong việc giao thương, mua bán.1 Vị trí đặt nhà máy 5 Hình 1.
Vị trí địa lý khu công nghiệp Biên Hòa 2 – Đồng Nai Khu công nghiệp tập trung Biên Hòa 2 được xây dựng tại phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Đây được xem là đầu mối giao thông của khu vực tứ giác kinh tế gồm Đồng nai – Bình Dương – Vũng Tàu – TP.