CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHÈ VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHÈ 1. Nguồn gốc của chè đen, vai trò và tác dụng của chè 1.1 Nguồn gốc của chè đen Xét về khía cạnh lịch sử hay sinh học, các chuyên gia cho rằng trà có nguồn gốc từ châu Á, chủ yếu là ở Tây Nam và Bắc Trung Quốc. Con người bắt đầu sử dụng trà chính xác từ bao giờ thì không ai biết, tuy nhiên được ước chừng khoảng hơn 4000 năm trước (ước tính dưới triều nhà Thương (1600 TCN – 1046 TCN). Đến thời nhà Đường cùng với thơ ca thì văn hóa trà đã phát triển đến đạt đến đỉnh cao rực rỡ, không chỉ còn là một loại thức uống thông thường mà đã được nâng lên thành nghệ thuật.
Thế kỷ XVI một nhà truyền giáo đã đưa trà đến Bồ Đào Nha và đã trở nên phổ biến trong giới quý tộc Anh. Cùng với sự phát triển của đế quốc Anh nhu cầu trà lan rộng ra khắp thế giới. Người ta đã phát hiện ra rằng trà đen bị oxy hóa nhiều hơn sẽ giữ được độ tươi và hương vị tốt hơn trong những chuyến đi dài ngày so với người anh em trà xanh bị oxy hóa ít. Trong những ngày đầu của thương mại qua biên giới giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, trà đã được lên men, sấy khô và ép thành từng bánh để sử dụng thay cho tiền tệ.
Cho đến ngày nay, hầu hết trà đen sản xuất tại Trung Quốc vẫn được chế biến theo cách này. Bước nhảy vọt tiếp theo trong sản xuất trà đen là vào những năm 1800 khi giống cây trà Camellia sinensis assamica được phát hiện vào năm 1823 ở vùng Assam của Ấn Độ. Giống trà bản địa này phù hợp hơn nhiều cho việc sản xuất các lọai trà đen hương vị đậm đà mà thị trường có nhu cầu cao. Không lâu sau, vào năm 1835, người Anh bắt đầu trồng những vườn trà ở vùng Darjeeling của Ấn Độ, gần Nepal.
Vì Ấn Độ là thuộc địa của Anh, những loại trà đen khác nhau này nhanh chóng trở thành mặt hàng xuất khẩu phổ biến sang Anh. Hình ảnh về chè đen 1. Vai trò của chè Chè là một cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao. Chè trồng một lần, có thể thu hoạch 30-40 năm hoặc lâu hơn, có thể đưa vào kinh doanh sản xuất từ năm thứ tư.
Ở Việt Nam, chè là một trong những cây có giá trị xuất khẩu cao. Để sử dụng nguồn tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào, thây đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp với điều kiện không tranh chấp với diện tích trồng cây lương thực, chè là một trong những cây có ưu thế nhất. Việc phát triển mạnh cây chè ở vùng trung du và miền núi dẫn tới việc phân bố các xí nghiệp cong nghiệp sản xuất chè hiện đại ngay ở những vùng đó, do đó làm cho việc phân bố công nghiệp được đồng đều và làm cho vùng trung du và miền núi mau chóng đuổi kịp miền xuôi về kinh tế và văn hóa. Tác dụng của chè Trung quốc là nước đầu tiên sản xuất chè để uống sau đó nhờ những đặc tính tốt của nó, chè trở thành thức uống phổ biến trên thế thới.
Tác dụng chữa bệnh và chất dinh dưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học xác định như sau: Hỗn hợp tannin chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột như tả, lỵ, thương hàn. Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè, đặc biệt là chè xanh để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máy dạ dày. 9 Cafein và một số hợp chất alcaloit (theobromine, theophelin) có trong chè là những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường sự hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt nhọc sau những lúc làm việc căng thẳng. Chè còn chứa nhiều loại vitamin A, B1, B2, B6, P, PP và nhiều nhất là vitamin C.
Một giá trị đặc biệt của chè được phát hiện gần đây là tác dụng chống phóng xạ. Điều này đã được các nhà khoa học Nhật Bản thông báo qua việc chứng minh chè có tác dụng chống được chất Stronti (Sr) 90 là một đồng vị phóng xạ rất nguy hiểm. Ngoài ra, chè còn cung cấp cho chúng ta một nguồn năng lượng và khoáng chất nhất định. Tuy nhiên, nếu uống chè quá nhiều, chất tannin trong chè sẽ hạn chế sự hấp thụ sắt của cơ thể nên có nguy cơ thiếu máu.
Uống nhiều chè cũng có thể bị rối loạn tiêu hóa gây chứng táo bón hoặc một số người uống chè khi đói thường bị chứng nôn nao, run rẩy chân tay mà người ta còn gọi là “say chè”. Vì vậy, sử dụng chè một các khoa học sẽ có tác dụng tốt đối với sức khỏe và ngược lại nếu dùng quá nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe. Tổng quan về tình hình sản xuất chè Việt Nam Trồng chè xưa đến nay vốn là thế mạnh của nền nông nghiệp nước Việt Nam. Hiện nay, ngành trồng chè không những sản xuất trong nước mà còn vươn tầm thế giới.
Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trong nước chè tại Việt Nam • Với điều kiện thổ nhưỡng và thời tiết thuận lợi cây chè đã trở thành thế mạnh của Việt Nam. Tình hình sản xuất và xuất khẩu chè trong nước và ngoài nước luôn ở mức cao. Minh chứng cho điều này là thành tích đứng thứ 7 trong sản xuất và thứ 5 trong xuất khẩu chè thế giới. Diện tích trồng chè ở nước ta là trên 130.000 ha với hơn 500 cơ sở chế biến, sản xuất.
Đạt mức công suất khá lớn với hơn 500.000 tấn chè khô mỗi năm. 10 • Trong 6 tháng đầu năm 2021 lượng chè Việt Nam xuất khẩu của cả nước đạt 58. Con số này tăng 0,3% so với lượng chè xuất khẩu cùng kỳ của năm 2020, thu về 94,86 triệu USD tăng 4,4%, giá trung bình đạt 1. Theo thống kê từ Tổng cục Hải quan trong tháng 6/2021 cả nước có lượng chè xuất khẩu đạt 11.110 tấn, tương đương với thu về 19,57 triệu USD, giá trung bình tính được là 1.761 USD/ tấn tăng 9,8% về lượng và tăng 18,7% về kim ngạch so với tháng 5/2021, tăng 8,1% về giá.
So với tháng 6/2020 thì giảm 7,8% về lượng và giảm 2,1% về kim ngạch nhưng tăng 5,8% về giá. Pakistan vẫn là quốc gia đứng đầu về sức tiêu thụ chè của Việt Nam xuất khẩu sang, con số đạt trên 17.274 tấn, tương đương với 33,41 triệu USD, giá trung bình 1.933,9 USD/tấn, tăng 12% về lượng, tăng 14,4% về kim ngạch và tăng 2,1% về giá so với cùng kỳ năm 2020; chiếm 29,7% trong tổng lượng và chiếm 35,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu chè của cả nước. Đài Loan là thị trường thứ 2 mà Việt Nam xuất khẩu chè sang, trong 6 tháng đầu năm 2021 Việt Nam xuất khẩu lượng chè tăng 15 % và tăng 12,9% về kim ngạch nhưng lại giảm 2% về giá so với 6 tháng đầu của năm 2020, đạt 8.425 tấn, tương đương 12,98 triệu USD. Thị trường thứ 3 mà Việt Nam xuất khẩu chè là Nga.
Nga tiêu thụ sản lượng chè của Việt Nam đạt mức 6.501 tấn, tương đương với 10,33 triệu USD, giá 1.589 USD/tấn, giảm 11,8% về lượng, giảm 7% kim ngạch nhưng tăng 5,5% về giá so với cùng kỳ, chiếm 11% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu chè của cả nước. Thị trường tiêu thụ chè của Việt Nam đáng chú ý nhất là Trung Quốc, trong 6 tháng đầu năm 2021 sức tiêu thụ của thị trường Trung Quốc có mức tăng mạnh 55% về lượng, tăng đến 59% về kim ngạch và giá tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2020, đạt mức 5.405 tấn, tương đương 8,39 triệu USD, giá 1. Các vùng chè nổi tiếng tại việt nam • Việt Nam hiện có nhiều vùng chuyên canh chè và cho ra năng suất cùng chất lượng cao. Những vùng chuyên canh chè nổi tiếng phải kể đến như: Mộc Châu (Sơn La), Tân Cương (Thái Nguyên), Bảo Lộc (Lâm Đồng),… Dưới sự sáng tạo của người nông dân các sản phẩm từ chè đang ngày càng đa dạng hơn về chủng loại.
Cùng với đó, vẫn đảm bảo chất lượng và sản lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài nước. Thương hiệu đi đầu trong ngành chè và được ưa chuộng hiện nay phải nói đến là Hải Trà Tân Cương. Vùng chè Tân Cương Thái Nguyên Các vùng tròng chè nổi tiếng ở Việt Nam: • Vùng Tây Bắc: Tây Bắc là một địa danh không chỉ khiến con người ta say đắm bởi khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ và uy nguy. Mà nơi đây cũng là cái nôi của một loại cây đáng trân quý.
Cây trà Tây Bắc, ấp ủ hương vị thiên nhiên núi rừng. Khu vực các tỉnh Tây Bắc như Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang, Sơn La luôn được biết đến là vùng đất với những giống trà ngon, đặc trưng. Nổi tiếng nhất mà chúng ta có thể kể đến là trà Tà Xùa, Lũng Phìn, Hà Giang… Ở vùng này, có hai giống trà được xem là gắn liền với nhiều người dân và vô cùng nổi tiếng là trà shan tuyết và trà cổ thụ cao sơn (các giống trà này có đặc điểm là được bao phủ bởi lớp lông tơ trắng mịn 12 như tuyết vào toàn bộ búp non). Trà ở đây mang đậm hương vị của núi rừng, đắng chát có, dịu ngọt cũng có khiến con người ta quyến luyến chẳng thể nào rời xa.
• Vùng trà Tân Cương Thái Nguyên: Vùng Tân Cương, Thái Nguyên được biết đến là vùng chuyên trồng cây trà xanh và có diện tích lớn nhất phía Bắc với đặc điểm của giống trà là sợi trà cong cong như hình chiếc móc câu, trà lá nhỏ có vị rất đậm đà, chát đượm. Vùng đất nơi đây với những đồi chè xanh mướt, trải dài bao la và bất tận. Những đồi chè vươn lên xanh tốt bởi thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng vô cùng thuận lợi. Trải qua hàng trăm năm, vùng đất này đã đánh dấu vị thế của mình trên bản đồ trà.
Khu vực được xem là đặc trưng trong các vùng trồng trà ở vùng Thái Nguyên là Tân Cương với đặc trưng là loại trà nõn tôm. Địa thế chủ yếu là đồi núi rất phù hợp để canh tác và phát triển cây trà, cho ra được những cây trà có mùi trà thơm ngọt, rất dễ chịu. • Vùng Bảo Lộc, Lâm Đồng: Ngược dòng lịch sử ta sẽ thấy, do nhu cầu khai thác đất đai và nguồn nhân công bản xứ khi xưa của người Pháp, cây trà đã được đưa xuống vùng Bảo Lộc của tỉnh Lâm Đồng ngày nay vào những năm 1930.