CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN Ô TÔ 1. Tổng quan về nghành công nghiệp ô tô trong nước Ngành công nghiệp ô tô vẫn luôn được đất nước ta xem là một ngành mũi nhọn cần phát triển. Tuy nhiên, vẫn chưa thể so sánh với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Ngày nay, nước ta đã có xu hướng tăng mạnh việc sản xuất các phụ tùng, linh kiện và giảm mạnh việc lắp ráp dây chuyền, sản xuất thùng xe.
Những doanh nghiệp lớn trong nước tiêu biểu như Thaco, Vinfast với những công nghệ và hàng loạt máy móc tiên tiến đã có tỷ lệ nội địa hóa được cải thiện trong thời gian qua (khoảng 50- 55%). Tuy nhiên việc sản xuất vẫn còn hạn chế về mặt số lượng và chất lượng, chủ yếu là những mặt hàng, chi tiết đơn giản như lốp xe, ghế ngồi… Còn lại những sản phẩm yêu cầu kỹ thuật cao và mức độ gia công chính xác như hộp số, phanh, ly hợp, …vẫn phải nhập khẩu từ các nhà cung cấp trên thế giới. Nhìn chung, việc phát triển và nghiên cứu ô tô ở Việt Nam còn tương đối khó khăn. Nguyên nhân có từ nhiều nguồn nhưng chủ yếu vẫn là những vấn đề chính như các doanh nghiệp ô tô vẫn chưa đủ khả năng và công nghệ chế tạo, số lượng kỹ sư giỏi còn ít vì thực trạng “chảy máu chất xám”.
Vì thế nước ta phải cần rất nhiều thời gian, tập trung đầu tư mạnh mẽ hơn cho công nghệ cũng như đưa ra những đường lối phát triển đúng đắn nhằm đưa ngành công nghiệp ô tô hòa nhập với thế giới. Giới thiệu chung về nghiên cứu phát triển ô tô 1.1 Khái niệm chung về nghiên cứu phát triển R&D (Research and Development), thường được giải thích là “nghiên cứu và phát triển”, là cụm từ được dùng trong hoạt động thiết kế và nâng cấp cho sản phẩm mới với các tính năng và hiệu quả sử dụng tốt hơn so với sản phẩm thế hệ trước. R&D là công đoạn đầu tiên trong chuỗi giá trị của các sản phẩm, từ đó tiếp theo là các hoạt động thiết kế, thử nghiệm, sản xuất hàng loạt và thương mại hóa sản phẩm. Một phòng ban R&D chuyên nghiệp trong tập đoàn thường bao gồm đồng thời 3 chức năng sau: 1.
Nghiên cứu – phát triển sản phẩm (Product R&D) Đây là chức năng nghiên cứu và phát triển nhằm cho ra đời những sản phẩm có thiết kế, vật liệu, đặc tính, công dụng và tính năng mới. Hoạt động nghiên cứu và phát i 9 Luận Văn Tốt Nghiệp SVTH: Nguyễn Toàn Khang triển này thường chú trọng nhiều đến thiết kế sản phẩm như cấu hình sản phẩm, thành phần cấu tạo, kiểu dáng, màu sắc, vật liệu, … Ngoài ra, nghiên cứu và phát triển sản phẩm còn bao gồm cả việc nghiên cứu, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có. Nghiên cứu – phát triển công nghệ (Technology R&D) Việc nghiên cứu, tìm kiếm công nghệ sản xuất, chế tạo tối ưu để cho ra đời sản phẩm với chất lượng và giá thành phù hợp cũng là một trong những chức năng quan i trọng của bộ phận nghiên cứu và phát triển. Ví dụ, công nghệ chế tạo vật liệu mới cho thân vỏ ô tô, công nghệ tự động hóa trong sản xuất, công nghệ ô tô điện, công nghệ ô tô hybrid, … Nghiên cứu – phát triển công nghệ còn bao gồm các hoạt động giải mã công nghệ để hình thành và phát triển công nghệ mới cho doanh nghiệp.
Nghiên cứu – phát triển quy trình (Process R&D) Bản chất của chức năng này là nghiên cứu, tìm kiếm các quy trình sản xuất, chế i tạo, lắp ráp, vận hành, phối hợp, …tối ưu, được thể hiện bằng các quy trình cụ thể mang tính ứng dụng cao, đem lại hiệu suất và hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp. Điển hình cho hoạt động này là việc nghiên cứu để cải tiến, phát triển các quy trình sản xuất (đối với sản phẩm), quy trình phục vụ (đối với dịch vụ), quy trình vận hành (đối i với máy móc, thiết bị), … Hoạt động này có thể được xem là hoạt động nghiên cứu – phát triển “phần mềm” của sản phẩm, khác với phần cứng là vật liệu, cấu hình sản phẩm, công nghệ sản xuất, chế tạo, v.2 Những tiêu chí đánh giá sản phẩm Để làm một sản phẩm, nhất là sản phẩm ô tô có yêu cầu cao, được thị trường đón nhận, chúng ta cần phải chú ý những tiêu chí sau: 1. Sản phẩm phải có tính khả thi Một sản phẩm trên bản vẽ phải có khả năng đưa vào chế tạo một cách thuận tiện và an toàn theo những tiêu chí kỹ thuật công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất của đơn vị mình với chi phí hợp lí. Đặc biệt là sản phẩm ô tô có một chuỗi quá trình sản xuất khá phức tạp và tốn kém.
Do vậy, khả năng dễ chế tạo và tính an toàn của sản phẩm sẽ có tác động trực tiếp làm giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. Nó cũng giúp cho việc tháo lắp, bảo trì, sửa chữa sản phẩm đơn giản hơn khi sử dụng. 10 Luận Văn Tốt Nghiệp SVTH: Nguyễn Toàn Khang 1. Sản phẩm phải đáp ứng nhu cầu khách hàng Mọi sản phẩm làm ra muốn bán được thì phải có những công năng theo mong muốn của khách hàng, phải giúp người mua thực hiện được những yêu cầu của họ.
Ví dụ: người ta mua một chiếc ô tô vì những mục đích khác nhau: để đi làm và cũng để đi chơi gia đình, đi du lịch hay dùng để vận tải hành khách, hàng hóa trong kinh doanh vận tải. Do vậy, sản phẩm phải đáp ứng ở mức cao nhất những mục đích này. Sản phẩm cần phải bền và có độ tin cậy Độ bền, tuổi thọ hay khả năng hoạt động liên tục, ổn định và sự tin cậy của sản phẩm là yếu tố quan trọng giúp người mua tin dùng, lựa chọn và giới thiệu sản phẩm cho bạn bè. Chiếc ô tô hay một thiết bị cơ khí dù hữu ích nhưng không bền, không ổn định thì rất khó có thể thuyết phục người mua.
Sản phẩm cần phải “đẹp” Đáp ứng nhu cầu về mặt tinh thần, thẩm mỹ và tính thời trang của khách hàng. Nếu một chiếc ô tô chỉ đảm bảo công năng và độ bền cơ bản sẽ khó có khả năng chen chân vào sự lựa chọn của khách hàng, yếu tố “đẹp” hay tính thẩm mỹ, thời trang, hợp xu hướng… sẽ làm tăng cơ hội được lựa chọn cho chiếc xe. Sản phẩm cần cạnh tranh Trong môi trường cạnh tranh, luôn có nhiều doanh nghiệp cùng cạnh tranh sản phẩm trên một phân khúc. Để sản phẩm thành công cần xét đến tính cạnh tranh về kỹ thuật và kinh tế của sản phẩm, tức là chiếc ô tô hay thiết bị cơ khí phải thương mại hóa, bán được hơn những sản phẩm khác cùng phân khúc trên thị trường 1.
Sản phẩm cần tiện dụng Là khả năng dễ dàng sử dụng, thuận tiện và an toàn khi thao tác, dễ dàng sửa chữa, bảo trì… Những sản phẩm quá phức tạp, đòi hỏi quá nhiều kiến thức, kỹ năng khi dùng sẽ thu hẹp đối tượng mua hàng. Sản phẩm cần có mức giá hợp lý Đây là yếu tố quan trọng, tùy vào phân khúc khách hàng đang theo đuổi, cần điều chỉnh thiết kế để có mức giá hợp lý. Nếu là phân khúc bình dân thì nên có giá thấp. Nếu là phân khúc cao cấp, giá không phải yếu tố quyết định hàng đầu.
11 Luận Văn Tốt Nghiệp SVTH: Nguyễn Toàn Khang 1. Sản phẩm thân thiện môi trường Đây là yêu cầu nảy sinh và trở nên cấp thiết trong xu hướng hiện nay, khi độ phát thải ô nhiễm môi trường trở thành các tiêu chuẩn bắt buộc của sản phẩm. Muốn cạnh tranh tốt, bắt buộc nhà sản xuất phải tạo ra những chiếc xe ô tô đáp ứng những tiêu chuẩn và lộ trình về bảo vệ môi trường của nhà nước hay khu vực mà sản phẩm tham gia. Sản phẩm khó bắt chước Một sản phẩm tốt và thành công, được thị trường đón nhận sẽ là điều tốt.
Nhưng nếu thiết kế sản phẩm dễ bị sao chép, bắt chước … thì sẽ gặp vấn đề, nhất là ở Việt Nam khi Luật Sở hữu trí tuệ còn lỏng lẻo và chưa được tôn trọng.3 Thời gian phát triển sản phẩm và thương phẩm Quy trình R&D (hay R4D: R for D) là một quá trình đầu tư nghiên cứu và phát triển lâu dài, phức tạp và gặp khá nhiều rủi ro, nhất là khi sản phẩm đó là chiếc ô tô, có trên dưới 25.000 chi tiết thuộc nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ khác nhau, phụ thuộc nhiều vào sự biến động thị trường, thị hiếu, các chính sách, nhất là trong điều kiện Việt Nam với ngành công nghiệp cơ khí và ô tô phụ thuộc từ 60% đến 80% vào các nhà cung cấp linh kiện nước ngoài. Đặc biệt khó khăn hơn nữa, khi muốn biến sản phẩm ô tô đó thành một thương hiệu, nhất là thương hiệu có giá trị khu vực và tiến tới toàn cầu. Theo quan điểm R&D, sản phẩm là sự kết hợp giữa các thông tin thiết kế và một môi trường sản xuất cụ thể như hình 1.1 12 Luận Văn Tốt Nghiệp SVTH: Nguyễn Toàn Khang Hình 1.1: Các lĩnh vực tích hợp của R&D Như vậy, sản xuất và phát triển sản phẩm có thể coi như quá trình xử lý thông tin thiết kế để chuyển đổi nó từ quá trình sản xuất ra sản phẩm. Thông tin thiết kế càng nhiều, càng phong phú thì hiệu quả càng cao, từ đó có thể dùng một môi trường sản xuất vừa phải, phù hợp, với sự đầu tư không lớn nhưng sẽ cho ra những sản phẩm có giá trị thương mại cao.
Quá trình phát triển sản phẩm là một quá trình đầu tư (hình 1.2) bắt đầu từ khâu lập kế hoạch và kết thúc khi cho ra sản phẩm cuối cùng để bán cho khách hàng.2: Quá trình phát triển sản phẩm là một quá trình đầu tư Để thương mại hóa một sản phẩm trở thành thương phẩm, phải trải qua những 13 Luận Văn Tốt Nghiệp SVTH: Nguyễn Toàn Khang giai đoạn sau sản xuất, thử nghiệm và sử dụng của khách hàng để có thể đạt được một sản phẩm cạnh tranh (hình 1.3: Quy trình phát triển sản phẩm thành thương phẩm Thời gian để biến một ý tưởng thành thương phẩm (Time To Market, TTM), là một thuật ngữ thường dùng để chỉ thời gian từ khi bắt đầu xây dựng ý tưởng, nghiên cứu thiết kế, chế thử, hoàn thiện thiết kế, chuẩn bị sản xuất, sản xuất hàng loạt và đưa ra thị trường.