CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ DẬP TẠO HÌNH KIM LOẠI TẤM. Khái quái về công nghệ gia công áp lực. Gia công áp lực là một ngành cơ bản trong sản xuất cơ khí. Công nghệ gia công áp lực đã có từ hàng ngàn năm, nó được phát triển không ngừng như các ngành khoa học kỹ thuật khác.
Ngày nay, việc gia công, chế tạo các chi tiết máy cũng như các sản phẩm cơ khí nói chung bằng phương pháp gia công áp lực chiếm khoảng 60 ÷ 80 % các sản phẩm cơ khí. Do vậy, gia công áp lực có một vị trí rất lớn trong công nghiệp chế tạo phụ tùng ôtô, máy kéo, xe máy, hàng dân dụng, y tế, điện tử, và công nghiệpquân sự. Công nghệ GCAL được chia thành 2 lĩnh vực lớn là công nghệ cán kéo và công nghệ dập tạo hình. Phương pháp công nghệ này cũng như các phương pháp công nghệ gia công khác, những vấn đề liên quan : lý thuyết, thiết bị, công nghệ luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và có thể sử dụng các phần mềm hỗ trợ mô phỏng các thiết bị, quá trình.
Khái niệm về công nghệ gia công áp lực. Gia công áp lực là phương pháp gia công vật liệu dựa trên sự biến dạng dẻo, luôn thay đổi hình dạng trong suốt quá trình gia công để đạt được hình dáng, kích thước cuối cùng theo mong muốn, không có sự phá hủy liên kết và bảo toàn thể tích của mình. Gia công áp lực chiếm một vị trí quan trọng với một tỷ trọng ngày càng tăng trong sản xuất cơ khí và luyện kim. Sự phát triển của công nghệ gia công áp lực.
Gia công kim loại bằng áp lực là một ngành cơ bản trong sản xuất cơ khí. Công nghệ gia công áp lực cho phép tạo ra các sản phẩm có hình dáng và kích thước phức tạp đồng thời đảm bảo chất lượng về cơ tính tốt, năng suất cao, giá thành hạ. Do vậy, gia công áp lực có một vị trí rất lớn trong công nghiệp chế tạo phụ tùng ôtô, máy kéo, xe máy, hàng dân dụng và quốc phòng với 2 lĩnh vực lớn là công nghệ cán kéo và công nghệ dập tạo hình. Gia công kim loại bằng áp lực có lịch sử phát triển rất lâu đời.
Từ thời kì đồ đồng, gia công kim loại bằng áp lực gần như là phương pháp duy nhất để tạo hình chi tiết - sản SVTH: Ngô Thanh Bình –CTM4K54-20090231 Trang 15 Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Trung Kiên phẩm. Trong giai đoạn đầu của nền công nghiệp cơ khí, kim loại còn dư dật và không đủ khả năng tạo ra chi tiết có độ chính xác cao, nên gia công kim loại bằng áp lực chỉ tồn tại như một phương pháp chuẩn bị phôi cho gia công cơ khí. Hiện nay và trong tương lai, ngành gia công kim loại bằng áp lực chiếm vị trí rất quan trọng do các ưu điểm nổi bật như: tiết kiệm kim loại (do không có phoi), độ đồng đều về mọi mặt của loại chi tiết cao, chất lượng chi tiết tốt, năng suất lao động cao.
Sản phẩm của gia công kim loại bằng áp lực có mặt ở hầu hết các lĩnh vực công nghiệop: công nghiệp ô tô, xe máy, máy bay, thiết bị điện, điện tử. Tại các nước phát triển trên thế giới như Anh, Nga, Mỹ,…ngành gia công áp lực xuất hiện từ rất sớm và mang lại giá trị kinh tế cao, đóng góp cho nền kinh tế quốc dân. Cùng với trang thiết bị, máy móc tiên tiến với số lượng chiếm khoảng 1/3 tổng số máy gia công cơ khí. Trong suốt hơn 40 năm hình thành và phát triển, ngành gia công áp lực đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế nước nhà.
Từ những năm 1995, Việt Nam đã có thể chế tạo thành công những loại máy uốn thép để tạo ra sản phẩm như: các loại thép định hình phục vụ xây dựng, những thanh chắn đường đạt tiêu chuẩn của Mỹ, máy làm các tấm lợp kim loại… Đây là những sản phẩm Việt Nam thường phải nhập khẩu từ Australia, Đài Loan. Khi chế tạo thành công, sản phẩm của Việt Nam có chất lượng tương đương giá chỉ bằng 1/10 dây chuyền ngoại nhập. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã thiết kế và chế tạo thành công những máy ép thủy lực cỡ 500-1000 tấn. Bên cạnh đó, theo chiến lược Quốc gia thì đến năm 2020, Việt Nam cơ bản phải trở thành một nước công nghiệp.
Điều đó chứng tỏ rằng trong một thập niên nữa, ngành công nghiệp cơ khí cũng phải đạt mức độ phát triển tiên tiến của khu vực và thế giới mà gia công áp lực được đánh giá là một trong những "chìa khóa" quan trọng mở cánh cửa công nghiệp hóa Việt Nam. Mặc dù có tiềm năng lớn như vậy nhưng không thể phủ nhận được rằng việc đầu tư phát triển ngành này hiện gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân chính phải kể đến là sự đầu tư trang thiết bị để phát triển ngành này rất lớn. Bên cạnh đó, quá trình đào tạo trong các trường đại học cũng chưa được phát triển và đầu tư thích hợp.
SVTH: Ngô Thanh Bình –CTM4K54-20090231 Trang 16 Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Trung Kiên Công nghệ và thiết bị gia công áp lực được coi là một tiêu chí để đánh giá năng lực ngành công nghiệp nặng của một quốc gia. Muốn vậy, cần phải có sự đột phá trong phát triển ngành gia công áp lực. Về lâu dài, cần phải xây dựng một chiến lược phát triển ngành gia công áp lực với các mục tiêu cụ thể.
Hiện nay, Việt Nam đang chủ trương tăng cường các công nghệ phụ trợ trong nhiều lĩnh vực : ô tô, xe máy, dầu khí, xi măng, điện tử, hiện đại hóa trong công nghiệp, nông nghiệp – nông thôn. Vì thế ngành cơ khí nói chung và công nghệ GCAL nói riêng càng cần được chú trọng nghiên cứu và phát triển. Ưu, nhược điểm của công nghệ gia công áp lực. So với công nghệ đúc.
- Ưu điểm: Khử được một số khuyết tật như rỗ khí, rỗ co, làm cho tổ chức kim loại mịn, cơ tính sản phẩm cao. Có khả năng biến tổ chức hạt của kim loại thành tổ chức thớ, có khả năng tạo được các tổ chức thớ uốn, xoắn khác nhau làm tăng cơ tính sản phẩm. Độ bóng, độ chính xác cao hơn các chi tiết đúc. Dễ cơ khí hóa và tự động hóa nên năng suất cao, giá thành hạ.
- Hạn chế: Không gia công được các chi tiết phức tạp. Không rèn dập được các chi tiết quá lớn. Không gia công được các kim loại dòn. So với phương pháp gia công cắt gọt.
- Ưu điểm : Năng suất cao, phế liệu ít, giá thành hạ. Rèn, dập là những phương pháp cơ bản để tạo phôi cho gia công cắt gọt. - Nhược điểm : Độ bóng, độ chính xác thấp hơn so với gia công cắt gọt. SVTH: Ngô Thanh Bình –CTM4K54-20090231 Trang 17 Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.
Lê Trung Kiên 1. Công nghệ dập tạo hình kim loại tấm. Giới thiệu công nghệ dập tấm. Dập tấm là một phần của quá trình công nghệ bao gồm nhiều nguyên công công nghệ khác nhau nhằm làm biến dạng kim loại tấm (băng hoặc dải) để nhận được các chi tiết có hình dạng và kích thước cần thiết với sự thay đổi không đáng kể chiều dày vật liệu và không có phế liệu ở dạng phoi.
Dập tấm thường được thực hiện với phôi ở trạng thái nguội( nên còn được gọi là dập nguội) khi chiều dày ủa phôi nhỏ hoặc có thể phải dập phôi ở trạng thái nóng khi chiều dày lớn. Nguyên công là một phần của quá trình công nghệ được thực hiện bởi một hay một số công nhân ở một vị trí nhất định trên một máy bao gồm toàn bộ những tác động liên quan để gia công phôi đã cho. Ưu điểm của sản xuất dập tấm Có thế thực hiện những công việc phức tạp bằng những động tác đơn giản của thiết bị và khuôn. Có thể chế tạo những chi tiết rất phức tạp mà các phương pháp gia công kim loại khác không thể hoặc khó khăn.
Độ chính xác của chi tiết tấm tương đối cao, đảm bảo lắp dẫn tốt, không cần qua gia công cơ. Kết cấu của chi tiết dập tấm cứng vững, bền nhẹ, mức độ hao phí kim loại không lớn. Tiết kiệm được nguyên vật liệu, thuận lợi cho quá trình cơ khí hóa và tự động hóa do đó năng suất lao động cao, hạ giá thành sản phẩm. Quá trình thao tác đơn giản, không cần thợ bậc cao do đó giảm chi phí đào tạo và quỹ lương.
Dạng sản xuất thường là loạt lớn và hang khối do đó hạ giá thành sản phẩm. SVTH: Ngô Thanh Bình –CTM4K54-20090231 Trang 18 Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Trung Kiên Tận dụng được phế liệu, hệ số sử dụng vật liệu cao. Dập tấm không chỉ gia công những vật liệu là kim loại mà còn gia công những vật liệu phi kim như: Techtoit, heetinac, và các loại chất dẻo.
Nhược điểm của sản xuất dập tấm. Đầu tư ban đầu lớn ( khuôn, thiết bị ), do đó chỉ thích hợp với gia công hàng loạt. Yêu cầu đội ngũ kĩ sư và công nhân lành nghề, có trình độ. Tính toán công nghệ phức tạp.
Phân loại theo công nghệ dập tấm. Theo đặc điểm biến dạng của quá trình dập tấm, người ta chia thành 2 nhóm chính: Biến dạng cắt vật liệu. Biến dạng dẻo vật liệu. Nhóm các nguyên công cắt vật liệu nhằm tách một phần vật liệu này ra khỏi một phần vật liệu này ra khỏi một phần vật liệu khác theo một đường bao khép kín hoặc không khép kín và kim loại bị phá vỡ lien kết giuacw các phần tử ( phá hủy ) tại vùng cắt : Cắt hình, đột lỗ, cắt phôi, cắt trích, cắt chia, cắt mép, cắt tinh, cắt phi kim loại.
Nhóm các nguyên công biến dạng dẻo vật liệu làm thay đổi hình dạng và kích thước bề mặt của phôi bằng cách phân phối lại và dịch chuyển thể tích kim loại để tạo ra chi tiết có hình dạng và kích thước cần thiết nhờ tính dẻo của kim loại và không phá hủy tại vùng biến dạng. Trong đa số trường hợp chiều dày vật liệu phôi hầu như không thay đổi hoặc thay đổi nhỏ nhưng không chủ định như: Dập vuốt ( dập vuốt có biến mỏng và không biến mỏng), uốn ( uốn, cuốn mép, vặn xoắn), dập ép, tạo hình ( dập nổi, lên vành,…) SVTH: Ngô Thanh Bình –CTM4K54-20090231 Trang 19 Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Trung Kiên 1. Các sản phẩm điển hình.