Đặt vấn đề Việt Nam là quốc gia có điều kiện rất thuận lợi để phát triển ngành thủy sản, với bờ biển dài và khí nhiệt đới gió mùa đã góp phần tạo nên nguồn nguyên liệu thủy hải sản phong phú ở nước ta. Thủy sản ở Việt Nam rất đa dạng với khoảng hơn 2000 loại cá, trong đó có khoảng 40 loài có giá trị về kinh tế. Biết tận dụng những ưu điểm đó, nước ta ngày càng khuyến khích phát triển ngành chế biến thủy sản để đem lại nguồn lợi lớn về mặt kinh tế cho nước nhà. Muốn phát triển tốt ngành chế biến thủy sản đòi hỏi phải có lực lượng công nhân đào tạo bài bản, nắm bắt được các quy trình tiên tiến và hiện đại nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dung và hơn hết là đủ tiêu chuẩn xuất khẩu hang hóa qua nước ngoài.
Hiện nay, các sản phẩm thủy sản ở nước ta được xuất khẩu sang các nước như Trung Quốc, Nhật, Mỹ,… và các nước Châu Âu như cá tra, cá ngừ, tôm, bạch tuột,… Bên cạnh những mặt tích cực thì chúng ta đang gặp vấn đề lớn về mặt môi trường đang được dư luận và các nhà làm công tác bảo vệ môi trường quan tâm đặc biệt. Nước thải thủy sản được thải ra từ các công đoạn chế biến, kiểm nghiệm vệ sinh dụng cụ sản xuất và nhà xưởng và đặc biệt là khâu rửa thủy sản các loại. Lượng nước thải này chủ yếu bị nhiễm bẩn bởi chất hữu cơ với nồng độ rất lớn. Ngoài ra tích tụ lâu ngày,các chất hữu cơ sẽ bị phân hủy gây mùi hôi khó chịu, do đó phải xử lí triệt để lượng nước thải này trước khi thải ra nguồn tiếp nhận.
Do đó, việc thiết kế hệ thống xử lý nước thải ngành chế biến thủy sản là một yêu cầu cấp thiết đặt ra không chỉ là cho các nhà quản lý môi trường mà còn với tất cả những người học về kĩ thuật môi trường.Tính cấp thiết của đề tài Nguồn nước thải chế biến thủy sản là một nguồn nước thải có chưa nhiều hợp chất hữu cơ, virus, vi trùng, trứng giun sán,.Nguồn nước này có nguy cơ gây ô nhiễm các tầng nước ngầm và trở thành nguyên nhân trực tiếp phát sinh dịch bệnh cho đàn gia súc. Đồng thời nó có thể lây lan một số bệnh cho con người và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh vì nước thải thủy sản có chứa nhiều mầm bệnh như: Samonella, Leptospira, Clostridium tetani,.nếu không xử lý kịp thời. 4 do an Bên cạnh đó còm có nhiều loại khí được sinh ra bởi hoạt động của vi sinh vật như: NH3, CO2, CH4, H2S,. Các loại khí này có thể gây nhiễm độc không khí và nguồn nước ngầm ảnh hưởng đến đời sống con người và hệ sinh thái.
Chính vì vậy mà việc thiết kế hệ thống xử lý nước thải chế biến thủy sản là vô cùng cần thiết và cấp bách.Mục tiêu thiết kế Đề xuất và thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản cho công ty TNHH Nông sản Tiền Giang với công suất 1000 m3/ngày đêm đạt tiêu chuẩn xả thải QCVN 40- 2011/BTNMT loại B.Nội dung thiết kế +Thu thập số liệu của nước thải chế biến thủy sản công ty TNHH Nông sản Tiền Giang. +Đề xuất công nghệ xử lý nước thải chế biến thủy sản công ty TNHH Nông sản Tiền Giang. +Tính toán các công trình trong công nghệ xử lý nước thải chế biến thủy sản công ty TNHH Nông sản Tiền Giang. +Thiết kế bản vẽ thi công cho công nghệ xử lý nước thải chế biến thủy sản công ty TNHH Nông sản Tiền Giang.Phạm vi thiết kế Hệ thống xử lý nước thải thủy sản công suất 1000 m3/ngày đêm cho nhà máy công ty TNHH Nông sản Tiền Giang.
5 do an CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI VÀ CÔNG TY TNHH NÔNG SẢN TIỀN GIANG 2.Tổng quan về các phương pháp xử lý nước thải thủy sản 2.Phương pháp cơ học Xử lý cơ học là phương pháp nhằm mục đích loại bỏ các tạp chất không tan có trong nước thải, điều hòa lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm. Bằng phương pháp này, có thể loại được đến 60% tạp chất không hòa tan, 10% BOD. Để tăng hiệu suất của công trình xử lý cơ học có thể sử dụng phương pháp làm thoáng, tức là để nước cần xử lý tiếp xúc với nguồn oxy trong không khí nhằm loại bỏ các khí hòa tan trong nước và oxy hóa hòa tan các kim loại hòa tan cũng như các hợp chất hữu cơ có trong nước.Song chắn rác, lưới lọc Song chắn rác, lưới lọc được dùng để giữ các cặn bẩn có kích thước lớn như: da, mỡ, nội tạng, xương cá trong quá trình chế biến thực phẩm thủy sản. Dựa vào khoảng cách giữa các thanh mà song chắn rác được chia thành 2 loại: +Song chắn rác thô: có khoảng cách giữa các thanh từ 20-50 mm, có tác dụng giữ lại các tạp chất lớn trong nước thải +Song chắn rác tinh: có khe rộng giữa các mắt lưới là từ 10-20 mm, để loại bỏ được các tạp chất nhỏ có trong nước thải như hạt cát, mãnh vụn nhỏ,… nhằm không gây hại cho công trình phía sau.Bể lắng Bể lắng được thiết kế để loại bỏ các chất rắn lơ lửng nhờ sự chênh lệch trọng lực của các chất có trong nguồn nước thải.
Các chất có khối lượng lớn sẽ bị lắng xuống đáy và được thu gom đem ra ngoài. Dựa vào cấu tạo thì bể lắng có thể bao gồm: bể lắng đứng, bể lắng ngang, bể lắng ly tâm, bể lắng nghiêng,. +Bể lắng đứng: thường được xây dựng là hình trụ với đáy là hình chóp, nước thải đi vào bể theo ống trung tâm và chuyển động theo phương thẳng đứng hướng từ dưới lên trên. Quá trình lắng cặn bắt đầu.
+Bể lắng ngang: là loại bể lắng được xây dựng theo hình chữ nhật với hai hoặc nhiều ngăn. Đây là loại bể được sử dụng khá nhiều và phổ biến vì mang lại hiệu quả khá cao. 6 do an Bể hoạt động theo nguyên lý, nước trong bể sẽ chảy từ đầu này đến đầu bên kia, các hạt cặn di chuyển theo chiều dòng nước và va phải các vách ngăn được đặt trong bể và sau đó rớt xuống đáy bể. Qua thực tế quá trình sử dụng, người ta nhận ra, so với bể lắng đứng thì bể lắng ngang hoạt động hiệu quả hơn từ 10-20%.vn/be-lang-trong-xu-ly-nuoc-thai) +Bể lắng ly tâm: mặt bằng bể là hình tròn, đường kính bể thường lớn d>20m để đảm bảo cho các hạt cặn có thể lắng theo phương chuyển động ngang.
Bể lắng ly tâm thường sử dụng cho các trạm xử lý có công suất lớn hơn 20. Đáy bể thường được thiết kế với độ dốc thấp do bể lớn, nên cần có dàn quay gạt cặn ở đáy để thu gom cặn. Hiệu quả lắng của loại bể này ước tính là 60%.vn/be-lang-trong-xu-ly-nuoc-thai) +Bể lắng Lamen: là loại bể cấu tạo từ các vách ngăn có khả năng lắng bùn hiệu quả, đầu tiên nước từ trong bể lắng chứa bùn chuyển động theo chiều từ dưới lên qua các vách ngăn, các vách ngăn này được đạt nghiêng 60o, các cặn sẽ bám vào các vách nghiêng, rồi tích tụ lại cho đến khi khối lượng các cặn lớn hơn so với lực đẩy của nước sẽ rơi xuống dưới. Bể lắng lamen mang lại hiểu quả xử lý cao so với các loại bể khác đồng thời cũng dễ dàng di chuyển, thi công hoặc tháo lắp.Bể tách dầu, mỡ Công trình này thường được áp dụng trong xử lý nước thải chế biến thủy sản từ lượng mỡ cá.
Đối với nước thải sinh hoạt, thường lượng dầu mỡ không cao nên ta có thể vớt dầu mỡ ngay ở bể lắng nhờ thiết bị gạt nổi.Bể lọc Bể lọc thường có tác dụng tách các chất ở trạng thái lơ lửng với kích thước nhỏ bằng cách cho nước thải đi qua lớp vật liệu lọc như sỏi, cát, than,. Có khá nhiều loại bể lọc, dựa vào cấu tạo lớp vật liệu lọc hoặc cách thức hoạt động ta có thể chia ra nhiều dạng sau: +Theo tốc độ lọc: Bể lọc nhanh, bể lọc chậm, bể lọc cao tốc. +Theo chế độ dòng chảy: Bể lọc trọng lực, bể lọc áp lực. +Theo chiều của dòng nước: Bể lọc xuôi, bể lọc ngược, bể lọc hai chiều.
7 do an +Theo số lớp vật liệu lọc: Bể lọc một lớp vật liệu lọc, bể lọc hai hay nhiều lớp vật liệu lọc.Phương pháp hóa học Bản chất của xử lý nước thải bằng phương pháp hóa học là dựa vào các quá trình hóa học để đưa một số chất hóa học trong nước thải về một dạng cặn và tách nó ra khoi nguồn nước hoặc là biến đổi nó sang một dạng khác ít gây ô nhiễm cho môi trường.Phương pháp keo tụ, tạo bông Quá trình lắng chỉ có thể tách các chất ô nhiễm, rắn huyền phù chứ không tách được các chất ô nhiễm dạng keo vì chúng là những hạt rắn có kích thước quá nhỏ d < 10 -4mm. Để có thể tách được chúng thì cần làm cho các hạt nhỏ lơ lửng kết lại với nhau thành những bông cặn có kích thước lớn hơn và có thể tách chúng ra khỏi nước bằng phương pháp lắng dễ dàng hơn. Các chất keo tụ thường là phèn nhôm, phèn sắt, PAC,… 2.Bể tuyến nổi Là phương pháp dung để tách các chất phân tán không tan như dầu mỡ hay hạt rắn ở dạng lơ lửng, chúng lắng rất kém. Ưu điểm của phương pháp tuyển nổi so với các phương pháp lắng khác là có thể lắng tốt các hạt nhỏ nhẹ trong thời gian ngắn.
Nguyên lý của phương pháp này được thực hiện bằng cách đưa các hạt khí mịn vào trong nước sạch, và cho chúng hòa tan vào nhau. Sau đó, chúng được đưa vào bể tuyến nổi qua một cái van và đưa về áp suất khí quyển, các bọt khí tách ra khỏi nước và bám vào các chất lơ lửng, dầu mỡ và nổi lên trên mặt nước tạo thành lớp váng, váng được thu bằng gạt cặn của bể tuyến nổi.Phương pháp hấp phụ Hấp phụ là phương pháp tách các hợp chất hữu cơ hoặc khí hòa tan khỏi nước thải bằng cách tập trung những chất đó trên bề mặt chất hấp phụ. Tuy nhiên do phương pháp này đòi hỏi chi phí cao nên ít được ứng dụng. Các chất hấp phụ thường được sử dụng như: than hoạt tính, silicagel,… Trong đó than hoạt tính là loại được sử dụng nhiều nhất vì giá thành rẻ và phổ biến hơn so với loại khác.Phương pháp trao đổi ion Nguyên lý của phương pháp này là tách những ion không mong muốn ra khỏi dung dịch và thay thế bằng những ion khác.