CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LIỆU 1.1 Nguồn gốc và phân bố Chi Xoài (Mangifera) thuộc họ Đào lộn hột (Anacardiaceae) còn có tên gọi là quả sài, là những loài cây ăn quả vùng nhiệt đới. Người ta không biết chính xác nguồn gốc của xoài, nhưng nhiều người tin là chúng có nguồn gốc ở Nam và Đông Nam Á, bao gồm miền đông Ấn Độ, Myanma, Bangladesh theo các mẫu hóa thạch được tìm thấy ở khu vực này có niên đại khoảng 25 tới 30 triệu năm trước. Trong kinh Vệ Đà có chỉ dẫn tới xoài như là "thức ăn của các vị thần". Chi Xoài phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Á, trong khi số lượng cao nhất của các loài có ở bán đảo Mã Lai, Borneo và Sumatra.
Chi Xoài hiện nay được biết có khoảng 69 loài cây thân gổ lớn, có chiều cao từ 10-40 mét. Các loài xoài trồng phổ biến (Mangifera indica) được tìm thấy trong tự nhiên ở Ấn Độ và giống trồng đã được giới thiệu đến các vùng nhiệt khác trên thế giới. Đây là loài cây ăn quả lớn nhất trên thế giới, có khả năng đạt chiều cao 100 mét và có chu vi trung bình 0,5-0,6 mét. Loài xoài trồng đã được thuần hóa ở Ấn Độ khoảng 4.000 năm trước đây.
Các loài đã được đưa đến khu vực Đông Á từ Ấn Độ khoảng 400-500 trước Công nguyên, sau đó, trong thế kỷ 15 đến Philippines, trong thế kỷ 16 đến Châu Phi và Brazil của Bồ Đào Nha. Các loài đã được mô tả cho khoa học bởi Linnaeus năm 1753. Ngoài loài xoài trồng có nguồn gốc ở Ấn Độ, còn có một số loài xoài có nguồn gốc ở Đông Nam Á. Loài xoài trồng gốc Ấn Độ không chịu được khí hậu ẩm ướt, có chồi non màu đỏ, dể bị bệnh nấm mốc sương, quả đơn phôi có màu sáng và hình dạng bình thường.
Chủng loại xoài Đông Nam Á có đặc điểm chịu đựng được khí hậu ẩm ướt, có chồi màu lục nhạt hay đỏ, kháng nấm mốc sương. Quả của chúng là đa phôi, có màu lục nhạt và dài hình quả thận. Trong số các loài Xoài Đông Nam Á có loài Xoài Đồng Nai (Mangifera dongnaiensis) là cây đặc hữu của Việt Nam. Ngoài ra ở Miền Bắc còn có hai loài gần với cây xoài là Cây quéo (Mangifera reba) và Cây muỗm (Mangifera foetida).
Các loài cây này có lá và quả ăn được như cây xoài, tuy nhiên quả rất nhỏ và chua. Xoài trồng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay là loài xoài trồng thông dụng có nguồn gốc ở Ấn Độ (Mangifera indica). Các nước trồng xoài nhiều nhất thế giới trong niên vụ 2010-2011 là: Quốc gia Sản lượng ( triệu tấn) Ấn Độ ~ 16.6 Nguồn: UN FAOSTAT Ở Việt Nam cây Xoài được trồng nhiều ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Có khoảng 10 loài xoài với hơn 30 tên gọi khác nhau, phân bố từ Nam ra Bắc.
Trong năm 2007, sản lượng xoài trên cả nước đạt 409.300 tấn, trong đó: Tiền Giang 79.000 tấn, Vĩnh Long 46.200 tấn, Đồng Nai 43.400 tấn, Khánh Hòa 28.400 tấn, Trà Vinh 21.400 tấn, Hậu Giang 20.500 tấn, Bến Tre 15.400 tấn, Tây Ninh 15.000 tấn, Kiên Giang 14.700 tấn, Bình Thuận 13.400 tấn, Thành phố Hồ Chí Minh 13.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ xoài trên thế giới Xoài được sản xuất trên 90 nước. Trong đó Châu Á chiếm 77% sản lượng xoài trên thế giới, tiếp theo đó là châu Mỹ và châu Phi có tỷ lệ lần lượt là 13 và 9% (FAOSTAT 2007). Mặc dù không phải là nước sản xuất chính, Mỹ là nơi sản sinh ra các giống xoài nổi tiếng trên thế giới và cũng là nước nhập khẩu xoài lớn nhất thế giới. Đến năm 2005, sản lượng xoài trên thế giới ước lượng 28.
Trong thời kỳ 1996 đến 2005, tốc độ tăng trưởng sản lượng hàng năm của xoài là 2. Mười nước đứng đầu chiếm 85% lượng xoài trên thế giới. Trong đó Ấn Độ chiếm 38.6% sản lượng từ năm 2003 đến 2005 với sản lượng 10. Tiếp theo đó là Trung Quốc và Thái Lan có sản lượng lần lượt là 3.
Những nước tiếp theo bao gồm Mexico (5.6%) và Ai Cập (1. Đến năm 2007, 7 trong 10 nước hàng đầu sản xuất xoài trên thế giới là Ấn Độ đạt 40% trong tổng sản lượng 33.45 triệu tấn, tiếp theo là Trung Quốc (11%), Thái lan (5.9%) và Việt Nam (1. Giá xoài ở một số nước châu Á Giá tại vườn Giá bán sĩ Giá bán lẻ Quốc gia USD/Kg Đồng/Kg USD/Kg Đồng/Kg USD/Kg Đồng/Kg Ấn Độ 0.770 Xoài Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu sản xuất sang Trung Quốc, nhưng, do Trung Quốc mở rộng diện tích canh tác nên số xoài nhập khẩu trong thời gian tới rất ít, chỉ còn 10-15 tấn (FAO 2009) nên nông dân cần khẩn trương áp dụng quy trình thực hiện nông nghiệp tốt GAP để tìm thị trường khác có giá trị cao hơn. Tại Mỹ, trái xoài lúc trước chỉ dành cho dân thượng lưu ăn bây giờ đã trở thành loại trái cây bình dân phổ cập mọi tầng liwps cũng như xoài cát Hòa Lộc, cát Chu cách đây 10 năm giá rất đắt những bây giờ nó đã phù hợp với túi tiền của mọi tầng lớp người dân.
Tiêu thụ xoài của Việt Nam chỉ có 4.7 kg/người/năm (sản lượng 410.000 tấn) vẫn còn rất thấp nên khai thác thị trường xoài trong nước là giải pháp khả thi khi nhập khẩu xoài của Trung Quốc giảm.3 Hiện trạng xoài ở Việt Nam 1.1 Vùng trồng và sản lượng Việt Nam, xoài được trồng từ Nam chí Bắc, vùng trồng xoài tập trung từ Bình Định trở vào, và được trồng nhiều nhất ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long như Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bến Tre… Ngoài ra, xoài còn được trồng ở Khánh Hoà, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Sơn La, Lạng Sơn và khu vực đồng bằng Sông Hồng. Diện tích trồng xoài của cả nước khoảng 87.000 ha, sản lượng hơn 969. Việt Nam đứng thứ 13 về sản xuất xoài trên thế giới nhưng số lượng xuất khẩu thì còn khiêm tốn và nằm ngoài tốp 10 nước xuất khẩu xoài. Các vùng trồng xoài chính của Việt Nam 1.2 Giống xoài Có 46 giống xoài được trồng ở Việt Nam, trong đó các giống trồng thương mại bao gồm xoài cát Hoà Lộc, xoài Cát Chu, xoài Hòn, xoài Xiêm núm, xoài Bưởi, xoài Cát bồ, xoài Thanh ca, xoài Canh nông, xoài Yên Châu.
Hai giống xoài dự kiến xuất khẩu sang Úc gồm xoài Cát Hoà Lộc và xoài Cát Chu. Xoài Cát Hoà Lộc là một trong những giống xoài nổi tiếng nhất của các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, giống xoài này được trồng đầu tiên tại xã Hoà Hưng – huyện Cái Bè – tỉnh Tiền Giang. Thời gian từ khi ra hoa đến thu hoạch 3,5-4 tháng. Giống xoài cát Hoà Lộc có trái to (trọng lượng trung bình 600-700 gr/trái), cơm dày, thịt dẻ, không có xơ, hột nhỏ, hương vị ngọt và rất thơm, cho năng suất trung bình 100kg/cây/năm (khoảng 10 năm tuổi) và khá ổn định.
Tuy nhiên giống xoài này cũng có một số nhược điểm là ra hoa không đồng loạt, tỉ lệ đậu trái thấp, vỏ trái mỏng nên khó bảo quản và vận chuyển đi xa. Xoài Cát Chu được trồng phổ biến ở Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, do đặc tính dễ đậu trái và cho năng suất cao trên 400kg/cây/năm (cây khoảng 10 năm tuổi) và khá ổn định. Trọng lượng trung bình khoảng 350g/trái, cơm dày, hột nhỏ, không xơ và hương vị rất thơm ngon.4 Tình hình tiêu thụ xoài Phần lớn xoài tiêu thụ trong nước được phân phối qua các chợ truyền thống do khoảng 90% người tiêu dùng Việt Nam vẫn mua rau quả ở các chợ này. Khoảng 6% lượng xoài ở Hà Nội và 3% ở ở TP HCM được cung cấp bởi những người bán dạo.
Các kênh phân phối hiện đại như hệ thống siêu thị và các cửa hàng trái cây cao cấp mới chỉ phục vụ cho một phần rất nhỏ người tiêu dùng, chỉ khoảng 2% ở Hà Nội và 3,5% ở TP HCM. Nhìn chung mặc dù đã có sự cải thiện về thu nhập và mức sống, trong vòng 10 năm qua, người tiêu dùng tại Hà Nội và TP HCM vẫn chưa thay đổi nhiều về thói quen mua bán rau quả và các địa điểm mua bán. Ngoài ra, những năm gần đây Việt Nam đã xuất khẩu xoài nhưng với khối lượng rất hạn chế. Năm 2001, Việt Nam xuất khẩu được khoảng 4.000 tấn xoài và đạt 3,4 triệu USD vào thị trường Trung Quốc theo đường chính ngạch.
Tuy nhiên, kể từ khi Thái Lan nhận được ưu đãi thuế quan (0%) so với Việt Nam (10%), khối lượng xuất khẩu xoài vào thị trường Trung Quốc giảm mạnh và hầu như không xuất khẩu được theo đường chính ngạch từ sau 2003 – 2010 mà chủ yếu là xuất khẩu tiểu ngạch. Xét về xuất khẩu chính ngạch, các thị trường xuất khẩu chính hiện nay của Việt Nam là Hàn Quốc (1.181 tấn, chiếm 43% tổng xuất khẩu xoài của Việt Nam), Nhật Bản (934 tấn, chiếm 34%) và Sigapore (186 tấn, chiếm 7%). Giống xoài chủ lực của Việt Nam hiện nay là cát Hòa Lộc. Xoài cát Hòa Lộc đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa.
Đồng thời năm 2012, HTX Hòa Lộc tổ chức sản xuất theo GAP, với 20,73 ha được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP. Cũng trong năm 2012, xoài cát Hòa Lộc được cấp chứng chỉ quốc gia về chỉ dẫn địa lý. Đến năm 2014, người nông dân sản xuất với quy trình cao hơn và được chứng nhận GlobalGAP. Sau khi được chứng nhận GAP, sản phẩm này được xuất khẩu sang các thị trường như: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canađa, Nga… và tiêu thụ nội địa ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội.5 Những khó khăn trong việc xuất khẩu xoài Xoài cát Hoà Lộc là xoài chủ lực của Việt Nam.
Tuy nhiên, xoài cát Hòa Lộc sản lượng quá ít, giá thành cao. Một vài vùng xây dựng mô hình GlobalGAP, VietGAP, nhưng việc tiêu thụ vẫn gặp khó, nhiều mô hình đang bế tắc vì chi phí đạt chứng nhận cao, giá bán không tương xứng. Xoài cát Hòa Lộc quá đắt khi bán trên thị trường trong nước, cũng như xuất khẩu. Trong khi, xoài Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc… chỉ có giá từ 20.000 đồng/kg; còn xoài cát Hòa Lộc lại có giá từ 50.
Trái xoài của các nước giá thấp, độ đồng đều cao, trái lớn vừa phải và rất dễ ăn. Xoài cát Hòa Lộc của chúng ta giá cao, thường dư nước, trái to… cho nên người dân một số nước không chuộng… Chúng ta cũng chưa có chiến lược phát triển, xúc tiến thương mại như một số nước để đưa trái xoài ra thế giới.