BỘ CÔNG THƢƠNG TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM KHOA CÔNG NGHỆ CƠ KHÍ ĐỒ ÁN THIẾT KẾ CƠ KHÍ Đề tài: TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ CƠ CẤU CHẤP HÀNH CỦA MÁY GỌT VỎ DỪA TƢƠI GVHD : Ngô Tiến Hoàng Lớp học phần : 420300263202 – DHCK14A Nhóm :5 Thành viên : Nguyễn Tấn Đạt 18025841 Nguyễn Thanh Nguyên 18035951 Cao Hữu Phúc 18035511 Cao Thanh Lộc 18033421 Tp.HCM, ngày 19 tháng 8 năm 2021 MỤC LỤC CHƢƠNG I: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI. Tổng quan về trái dừa:. Đặc tính của trái dừa. Một số loại dừa trồng ở Việt Nam.
Dừa xiêm xanh .3 Dừa tam quan. Mục tiêu đề tài:. Ý nghĩa thực tiễn:. Lý do chọn đề tài:.
17 CHƢƠNG II: TÍNH TOÁN THIẾT KẾ. Phƣơng án thiết kế. 23 CHƢƠNG III: NGUYÊN LÍ HOẠT ĐỘNG VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN. Sơ đồ nguyên lí hoạt động của máy bóc vỏ dừa tƣơi:.
Nguyên lí hoạt động:. Bảng phân công. 28 2 CHƢƠNG IV: CHỌN ĐỘNG CƠ. Xác định công suất động cơ:.
Tỷ số truyền. Số vòng quay sơ bộ:. Tỷ số truyền:. Số vòng quay:.
31 CHƢƠNG V: TÍNH TOÁN CHỌN ĐAI. Chọn loại đai:. Đƣờng kính bánh đai nhỏ:. Đƣờng kính bánh đai lớn:.
Khoảng cách trục sơ bộ:. Vận tốc đai:. Tính chính xác lại a. Các hệ số sử dụng:.
Tính lực căn ban đầu:. Tính chiều rộng B và đƣờng kính ngoài bánh đai B:. 34 CHƢƠNG VI: TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ TRỤC VÀ THEN. Chọn vật liệu làm trục:.
Xác định chiều dài trục: .Tính phản lực tại các gối đỡ và vẽ M:. Kiểm nghiệm độ bền: .Tính và chọn then:. 42 CHƢƠNG VII: THIẾT KẾ BỘ PHẬN CẮT .Cách đặt dao: .Lực cản cắt thái:. 44 CHƢƠNG VIII: TÍNH TOÁN CHỌN Ổ LĂN .Sơ đồ tải trọng trục lắp ổ lăn: .Xác định các phản lực: công thức .Chọn Kζ, Kt, V theo điều kiện làm việc: .Xác định hệ số X, Y: .Tải trọng quy ƣớc: .Tính thời gian làm việc theo triệu vòng quay: .Khả năng tải động tính toán : .Tuổi thọ chính xác của ổ:.
Kiểm tra tải tĩnh của ổ:. Kiểm tra số vòng quay giới hạn của ổ :. 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 52 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI I.
Tổng quan về trái dừa: I. Giới thiệu Dừa (tên khoa học: Cocos nucifera) là 1 loại cây họ Cau (Arecaceae). Nó cũng là thành viên duy nhất trong chi Cocos và là 1 loại cây lớn, thân đơn trục (có thể cao tới 30), với các lá đơn xẻ thùy lông chim, cuống và gân chính dài 4-6m, các thùy gân cấp 2 có thể dài 60-90cm, lá kèm thƣờng biến thành bẹ dạng lƣới ôm lấy thân, các lá già khi rụng để lại 4 vết sẹo trên thân. Về mặt thực vật học, dừa là loại quả khô đơn độc đƣợc biết đến nhƣ là quả hạch có xơ.
Vỏ quả ngoài thƣờng cứng, nhẵn, nổi rõ 3 gờ, lớp vỏ quả giữa là các sợi xơ gọi là xơ dừa và bên trong nó là lớp vỏ quả trong hay gáo dừa hoặc sọ dừa, lớp vỏ quả trong hóa gỗ, khá cứng, có ba lỗ mầm có thể nhìn thấy rất rõ từ phía mặt ngoài khi bóc hết lớp vỏ ngoài và vỏ giữa (gọi là các mắt dừa). Thông qua một trong các lỗ này thì rễ mầm sẽ thò ra khi phôi nảy mầm. Bám vào thành phía trong của lớp vỏ quả trong là vỏ ngoài của hạt với nội nhũ dạng anbumin dày, là lớp cùi thịt, gọi là cùi dừa, nó có màu trắng và là phần ăn đƣợc của hạt. Đặc tính của trái dừa -Nguồn gốc của loài thực vật này là chủ đề gây tranh cãi, trong đó một số học giả cho rằng nó có nguồn gốc ở khu vực đông nam châu Á trong khi những ngƣời khác cho rằng nó có nguồn gốc ở miền tây bắc Nam Mỹ.
Các mẫu hóa thạch tìm thấy ở New Zealand chỉ ra rằng các loại thực vật nhỏ tƣơng tự nhƣ cây dừa đã mọc ở khu vực này từ khoảng 15 triệu năm trƣớc. Thậm chí những hóa thạch có niên đại sớm hơn cũng đã đƣợc phát hiện tại Rajasthan và Maharashtra, Ấn Độ. Không phụ thuộc vào nguồn gốc của nó, dừa đã phổ biến khắp vùng nhiệt đới, có lẽ nhờ có sự trợ giúp của những ngƣời đi biển trong nhiều trƣờng hợp. Quả của nó nhẹ và nổi trên mặt nƣớc và có lẽ đã đƣợc phát tán rộng khắp nhờ các dòng hải lƣu: quả thậm chí đƣợc thu nhặt trên biển tới tận Na Uy cũng còn khả năng nảy mầm đƣợc (trong các điều kiện thích hợp).
Tại khu vực quần đảo Hawaii, ngƣời ta cho rằng dừa đƣợc đƣa vào từ Polynesia, lần đầu tiên do những ngƣời đi biển gốc Polynesia đem từ quê hƣơng của họ ở khu vực miền nam Thái Bình Dƣơng tới đây. -Dừa phát triển tốt trên đất pha cát và có khả năng chống chịu mặn tốt cũng nhƣ nó ƣa thích các nơi sinh sống có nhiều nắng và lƣợng mƣa bình thƣờng (750– 2.000 mm hàng năm), điều này giúp nó trở thành loại cây định cƣ bên các bờ biển nhiệt đới một cách tƣơng đối dễ dàng. Dừa cần độ ẩm cao (70–80%) để có thể phát triển một cách tối ƣu nhất, điều này lý giải tại sao nó rất ít khi đƣợc tìm thấy trong các khu vực có độ ẩm thấp (ví dụ khu vực 5 Địa Trung Hải), thậm chí cả khi các khu vực này có nhiệt độ đủ cao. Nó rất khó trồng và phát triển trong các khu vực khô cằn.
- Hoa của dừa là loại tạp tính (có cả hoa đực lẫn hoa cái và hoa lƣỡng tính), với cả hoa đực và hoa cái trên cùng một cụm hoa. Dừa ra hoa liên tục với hoa cái tạo ra hạt. -Khi quả dừa còn non, nội nhũ bên trong còn mỏng và mềm và có thể nạo dễ dàng. Nhƣng lý do chính để hái dừa vào giai đoạn này là để lấy nƣớc dừa làm thức uống; những quả to có thể chứa tới 1 lít nƣớc uống bổ dƣỡng.
Khi quả đã già và lớp vỏ ngoài chuyển thành màu nâu (khoảng vài tháng sau) thì nó sẽ rụng từ trên cây xuống. Vào thời điểm đó nội nhũ đã dày và cứng hơn, trong khi nƣớc dừa sẽ có vị nồng hơn. -Để lấy nƣớc của quả dừa cần loại bỏ lớp vỏ ngoài và lớp xơ dừa sau đó dùng đũa/que chọc vào mắt lớn nhất của quả rồi đặt ống hút vào. Ngƣời ta có thể lấy nƣớc bằng cách chặt bỏ một phần vỏ ở phần đối diện với cuống dừa để phần vỏ cứng bên trong phơi ra, sau đó vạt đi phần của lớp vỏ cứng đó và rót nƣớc dừa vào vật chứa (cốc, chén, bát, v.
Ngày nay, ngƣời ta còn dùng dao/máy bào bớt đi lớp vỏ bên ngoài làm gần lộ ra phần vỏ cứng phía đối diện cuống dừa, rồi cũng vạt bỏ đi phần này khi muốn lấy nƣớc. Do quả dừa có điểm rạn tự nhiên nên có thể bổ quả dừa bằng các loại dao to, chẳng hạn dao mác, dao phay hay các loại tuốc vít bản bẹt và búa. Trên quả dừa đã lột bỏ vỏ có 3 lằn gân ứng với 3 mắt, kinh nghiệm cho thấy khi dùng sống dao hoặc lƣỡi dao hơi cùn đập vuông góc vào gân chính thì quả dừa sẽ bể đôi dễ dàng, đƣờng bể thƣờng thẳng và đều. Các nông dân ở Bến Tre thƣờng dùng một loại dao đặc biệt lƣỡi không bén (sắc) lắm gọi là cái rựa để bổ dừa.
- Khi quả còn non thì lớp vỏ rất cứng, nhƣng quả dừa non hiếm khi rụng, ngoại trừ khi bị bệnh nhƣ nấm chẳng hạn hoặc do chuột, dơi. Trong thời gian quả rụng tự nhiên, lớp vỏ trở thành màu nâu và xơ dừa trở nên mềm và khô hơn, nhƣ thế quả sẽ ít bị hƣ hại khi rụng. Có một vài trƣờng hợp quả dừa rụng đột ngột và có thể gây thƣơng vong cho ngƣời. -Các thông số của quả dừa Độ ẩm của quả dừa: 6 -Độ ẩm của dừa có liên quan mật thiết tới chất lƣợng của quả dừa.
Độ ẩm càng cao thì màu sắc và nƣớc dừa càng mau hỏng và cuống dừa dễ bị bong ra làm ảnh hƣởng tới quá trình định vị quả dừa khi cắt gọt. Cơ tính của quả dừa : - Liên kết giữa cuống dừa : 20 – 40N - Độ bền của vỏ dừa : 200 - 350N - Độ bền của gáo dừa : 1200 – 2000N Thành phần của quả dừa - Vỏ chiếm 40%. - Nƣớc dừa chiếm 20%. Một số loại dừa trồng ở Việt Nam I.
Dừa xiêm xanh Là giống dừa uống nƣớc phổ biến nhất ở đồng bằng sông Cửu Long, ra hoa sớm sau khoảng 2,5 - 3 năm trồng, năng suất bình quân 140-150 trái/cây/năm, vỏ mỏng có màu xanh, nƣớc có vị ngọt thanh (7-7,5% đƣờng), thể tích nƣớc 250-350 7 ml/trái, có nhu cầu tiêu thụ rộng rãi trên thị trƣờng. Hình 1: Dừa xiêm xanh I. Dừa xiêm đỏ Là giống dừa uống nƣớc phổ biến thứ nhì ở đồng bằng sông Cửu Long, ra hoa sớm sau khoảng 3 năm trồng, năng suất bình quân 140-150 trái/cây/năm, vỏ trái mỏng có màu nâu đỏ, nƣớc có vị ngọt thanh (7-7,5% đƣờng), thể tích nƣớc 250-350 ml/trái, có nhu cầu tiêu thụ rộng rãi trên thị trƣờng. Hình 2: Dừa xiêm đỏ I.3 Dừa tam quan Là giống dừa uống nƣớc có màu sắc đẹp, có nguồn gốc từ Tam Quan (Bình Định), ra hoa sau khoảng 3 năm trồng, năng suất bình quân 100 -120 trái/cây/năm, vỏ trái mỏng có màu vàng sáng, nƣớc có vị ngọt thanh (7,5 – 8% đƣờng), thể tích nƣớc 250-350ml/trái.
Dân gian cho rằng nƣớc dừa Tam Quan tính mát nên thƣờng dùng để chữa bệnh. Tuy nhiên, do năng suất không cao nên hiện nay giống dừa này chỉ đƣợc trồng với số lƣợng không nhiều chủ yếu ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. 8 Hình 3: Dừa Tam quan I.4 Dừa ẻo Là giống dừa uống nƣớc có trái rất sai, kích thƣớc nhỏ, vỏ trái có màu xanh, nƣớc ngọt (7-7,5% đƣờng), thể tích nƣớc 100-150 ml/trái, năng suất 250-300 trái/cây/năm, có thể sử dụng để làm kem dừa, rau câu dừa và tạo cảnh quan cho du lịch sinh thái. Giống dừa này đƣợc trồng với số lƣợng ít ở Bến Tre, Tiền Giang và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Cũng giống nhƣ dừa ẻo nâu dừa ẻo xanh có kích thƣớc trái quá nhỏ nên cần lƣu ý hạn chế quy mô phát triển diện tích các giống dừa này. 9 Hình 4: Dừa ẻo (dừa dây) 1.5 Dừa ta Đây là giống dừa cao phổ biến nhất ở Việt Nam, trái có 3 khía rỏ, có 3 màu (ta xanh, ta vàng, ta đỏ hay còn gọi là dừa lửa).