phần mở đầu giới thiệu chung về hệ thống treo: Trên ôtô khi chuyển động có nhiều tính năng đặc trưng: - Tính năng thông qua. - Tính êm dịu vận hành. - Tính kinh tế nhiên liệu. - Tính ổn định và an toàn khi chuyển động.
Ngày nay với sự phát triển của ngành ôtô, người ta đang gắng tập trung vào cải thiện tính êm dịu vận hành và ổn định khi chuyển động, nhằm tạo cho con người cảm giác thoả mái nhất khi ngồi trên xe. Đảm bảo cho xe làm việc trên đường gồ ghề, giảm được tải trọng động phát sinh đối với hệ thống treo và ảnh hưởng đến tính ổn định. Ôtô chuyển động trên đường không bằng phẳng sẽ phát sinh dao động, những dao động này ảnh hưởng trực tiếp đến con người và tuổi thọ của xe. Theo con số thống kê thì khi xe chạy trên đường gồ ghề so với xe chạy trên đường bằng phẳng thì tốc độ trung bình giảm 40% -50%.
Quảng đường xe chạy 3 Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí giữa 2 kỳ đại tu giảm 35- 40%, giá thành vận chuyển tăng 40-50%. Ngoài ra nếu con người ở trong tình trang bị rung, xóc liên tục sẽ phát sinh ra tiếng ồn ở hệ thống treo, làm ảnh hưởng tuổi thọ của các cụm, chi tiết và hệ thống trên xe, đặc biệt là hệ thống treo. I- Cơ sở lý thuyết: + Tần số dao động thích hợp: Con người từ nhỏ quen với bước đi, quen với nhịp điệu của nó, tính trung bình trong 1 phút con ngưòi thực hiện từ 60- 90 bước đi. Người ta quan niệm rằng con người thực hiện 1 bước đi tức là thực hiện 1 dao đông.
ứng với bước đi là 0,5- 0,7(m)và trong 1 giờ đi được khoảng 4-6 (km), tuỳ theo tầm vóc của con người. Ôtô có chuyển động êm dịu là khi chạy trên mọi loại đường dao động của xe phát sinh có tần số n = 60- 90 dao động trong 1 phút. - Gia tốc thích hợp: Phương pháp đánh giá êm dịu, chuyển động này dựa vào gia tốc thẳng đứng của dao động khi ôtô chạy và số lần va đập lên ụ đỡ do mấp mô bề mặt đường gây ra trong 1 (km) quãng đường xe chạy. Để đánh giá độ êm dịu chuyển động và sự giảm tải trọng động.
Người ta cho xe chạy trên 1 quảng đường nhất định.com kho tài liệu miễn phí Trong khi đó dụng cụ ghi đặt trên xe sẽ ghi lại số lần dao động của gia tốc thẳng đứng của dao động, từ đó xác định được độ võng tĩnh của hệ thống treo. II- Các phần tử của hệ thống treo: Hệ thống treo là tổ hợp các cơ cấu thực hiện liên kết các bánh xe với khung xe (hoặc vỏ xe) để đảm bảo độ êm dịu và an toàn chuyển động trên cơ sở tạo các dao động của thân xe và bánh xe theo ý muốn và giảm các tải trọng va đập cho xe khi xe chuyển động trên địa hình không bằng phẳng. Ngoài ra hệ thống treo còn dùng để truyền các lực và mô men tác động giữ bánh xe và khung xe (vỏ xe). Hệ thống treo hoàn chỉnh gồm 3 bộ phận chính với các chức năng riêng biệt.
+ Bộ phận đàn hồi: Dùng để tiếp nhận và truyền lên khung xe các lực thẳng đứng từ đường, giảm tải trọng động và bảo đảm độ êm dịu chuyển động cho ôtô khi chuyển động trên các đoạn đường khác nhau. - Bộ phận đàn hồi thường được sử dụng bằng kim loại: Nhíp lá, lò xo, thanh xoắn. + Bộ phận hướng: Có mục đích xác định tính chất động học chuyển động của bánh xe với khung xe và ảnh hưởng tới tính ổn định và tính quay vòng của ôtô. Đồng thời góp phần vào việc truyền lực kéo, lực 5 Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí phanh, lực bền và các mô men phản lực của chúng lên khung hoặc vỏ xe.
+ Giảm chấn: Giảm chấn dùng để dập tắt các dao động của thân xe và bánh xe bằng cách biến năng lượng cơ gao động thành nhiệt.com kho tài liệu miễn phí ở trên các xe hiện nay, giảm chấn sử dụng phổ biến là thuỷ lực. Giảm chấn thuỷ lực là bộ phận quan trọng của hệ thống treo, đảm bảo góp phần nâng cao an toàn chuyển động và êm dịu chuyển động nhất là trong các trường hợp hoạt động trong điều kiện đường xấu. Giảm chấn thuỷ lực thường được phân loại theo cấu tạo, gồm giảm chấn đòn và giảm chấn ống. Hoặc phân loại theo hệ số, trị số cản ở hành trình nén và hành trình trả.
Giảm chấn tác dụng 1 chiều và giảm chấn tác dụng 2 chiều. đối với giảm chấn ống còn phân ra 2 loại: Loại 1 ống và loại 2 ống. Nguyên lý cấu tạo và hoạt động của giảm chấn thuỷ lực ôtô dựa trên nguyên tắc: Khi có sự dịch chuyển tương đối giữa bánh xe và thân xe thì dầu giảm chấn sẽ bị dồn ép từ khoang này qua khoang khác của giảm chấn qua lỗ tiết lưu, do đó tạo nên sức cản lớn. Sức cản này sẽ dập tắt các dao động và năng lượng dao động được biến thành nhiệt năng, do chất lỏng ma sát với thành lỗ tiết lưu và ma sát giũa các lớp chất lỏng với nhau đốt nóng dầu và toả ra ngoài môi trường.
Những giảm chấn đảm bảo đập tắt dao động cả 2 hành trình (nén và trả) được gọi là giảm chấn tác dụng 2 chiều. Những giảm chấn chỉ tạo nên sức cản ở 1 hành trình thì gọi là giảm chấn tác dụng 1 chiều(thường dùng dập tắt ở hành trình trả).com kho tài liệu miễn phí Cấu tạo giảm chấn ống thuỷ lực (hìnhIII) gồm có: Xi lanh công tác2, piston 7, có van thông qua 10, van trả 8 và cầu thuỷ lực piston 12, ống dẫn hướng của cần đẩy piston có vòng lít 19 và 23, xi lanh ngoài 5 và vỏ ống bụi bẩn 11 ở đáy xi lanh công tác có van nén 6 và van trả 3. Cần đẩy piston được cố định với thân xe qua tai 25 và bạc cao su, xi lanh ngoài thông qua tai 1 và bạc cao su ghép nối với dầm cầu (nếu là treo phụ thuộc) Toàn bộ trong thân xi lanh chứa đầy dầu giẩm chấn. Phần không gian giữa xi lanh ngoài 5 và xi lanh công tác 4 được gọi là khoang bù và chỉ chứa một ít dầu.
Tuổi thọ của giảm chấn phụ thuộc vào việc làm kín ống dẫn của cần đẩy píston vì giảm chấn làm việc ở điều kiện nặng nề. Khi có những dịch chuyển lớn của cần đẩy và bụi bẩn thường bám vào cần đẩy. có 2 vòng lít bằng cao su chịu dầu được bố trí trong vỏ và bị ép bởi lò xo16. Khi cần đẩy chuyển động lên trên thì phần dưới của vòng lít gạt dầu khỏi bề mặt của nó và dầu tụ lại ở các túi đầu.
Khi cần pitston chuyển động xuống dưới thì nó đẩy dầu trở lại xi lanh. Nếu nắp ngược thì đầu chảy ra ngoài giảm chấn. Phần không gian ở trên dẫn hướng nối với khoang bù qua các lỗ khoan. ở đây áp suất không khí gần với áp suất khí quyển, bởi vậy vòng lít được giảm tải khỏi tác dụng của áp suất dầu cao.com kho tài liệu miễn phí - Dầu từ khoang làm việc qua cần piston được đổ vào khoang bù qua các lỗ.
- Để ngăn bụi bẩn không rơi vào xi lanh người ta dùng vòng lít cao su 23. Nó làm việc tương tự như vòng lít 19 và phớt dạ 20. Tất cả 3 vòng làm kín cho cần đẩy được bố trí trong vỏ, bảo đảm sự dịnh tâm của các vòng lít. Vỏ được cố định ở phần trên của xi lanh ngoài 5 bằng đai ốc 21 và được bao kín bằng các vòng cao su 15 và 17.
lực cản ở hành trình nén nhỏ hơn nhiều so với ở hành trình trả. Lực cản này được bảo đảm bằng tiết diện lưu thông của các lỗ van. Van thông qua 10 mở, dầu chảy từ khoang dưới piston sang khoang trên piston. Nhưng tất cả dầu không thể chảy vào khoang trên vì còn có cần đẩy xi lanh công tác.
Vì vậy phần đầu bằng thể tích chiếm chỗ của cần đẩy piston đã chảy sang khoang bù qua lỗ tiết lưu ỏ van nén 6 làm tăng áp suất khí ở khoang bù lên 1 chút. Các lỗ tiết lưu tạo ra sức cản của thủy lực, tỉ lệ với bình phương vận tốc lưu thông của dầu. khí nén mạnh thì dầu không kịp chảy qua các lỗ tiết lưu, áp suất trong xi lanh công tác tăng nên và van nén bắt đầu mở 9 Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí Khi trả êm (nghĩa là khi bánh xe và thân xe tách xa nhau)cần đẩy cùng piston chuyển động lên trên. Khoang dưới piston xi lanh công tác giảm áp suất, còn ở khoang trên áp suất dần tăng lên.
Do vậy dầu từ khoang trên sẽ qua khe hở của van thông qua 10 (van trả 8 đóng)vào khoang dưới piston. Đồng thời đầu từ khoang bù qua van nạp 3 bổ sung vào khoang dưới piston. khi trả mạnh thì lò xo van trả 8 bị nén vào van trả phụ thuộc vào mức độ đột ngột của hành trình trả. Càng trả mạnh thì van mở càng lớn.
Trên (hình V- 32 )là cấu tạo giảm chấn thuỷ lực ở ôtô ZIL- 130. ở trên píton có 2 hàng lỗ, hàng lỗ trong là của van trả, hàng lỗ ngoài là của van thông qua. Còn ở phía dưới xi lanh cũng có 2 hàng lỗ, phía trong là nạp, phía ngoài là van nén. Nguyên tắc làm việc của nó như là trình bày ở trên.
III-yêu cầu đối với hệ thống treo: Đối với hệ thống treo phải đảm bảo yêu cầu cơ bản sau: tần số dao động riêng nằm trong giới hạn 90- 120 l/phút. + Giảm tối thiểu va đập cứng, hạn chế xung lực tác dụng từ bámh xe lên khung xe. + Dập tắt các dao động của thân xe khi đi trên đường. + Trọng lượng phần không được treo nhỏ.com kho tài liệu miễn phí - Nghiêng ngang thùng xe nhỏ: Ôtô con 6°ữ8°; ôtô khách 6°ữ12°, ôtô tải 6°ữ12°.
Ngoài những yêu cầu chung trên, các bộ phận của hệ thống treo còn có các yêu cầu riêng. IV- Sự phát triển của hệ thống treo. Ngày nay trên thế giới để nâng cao độ êm dịu chuyển động của xe, Các nhà nghiên cứu đã đi xa hơn trong việc phát triển hệ thống treo. Hệ thống treo mang các bộ phận phụ trợ là thuỷ lực hoặc khí nén, Hệ thống treo điều khiển bằng mạng điện tử, dùng các cảm biến để thu nhận các thông số cần thiết trong quá trình vận hành xe: trọng tải, gia tốc của dao động thẳng đứng, góc đặt bánh xe dẫn hướng, độ cao sàn xe.