MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài Đã từ lâu chăn nuôi là ngành cung cấp thực phẩm chủ yếu phục vụ đời sống con người. Cùng với nhu cầu thực phẩm của con người ngày càng cao, chăn nuôi cũng đạt nhiều thành tựu nhằm đáp ứng nhu cầu đó. Đặc biệt trong thời kỳ hội nhập (APEC, WTO…) như hiện nay, ngành chăn nuôi nước ta cũng phải chuyển mình cho phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Theo Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Tống Xuân Chinh “Trong khoảng 10 năm trở lại đây, ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam có sự chuyển biến mạnh mẽ, theo thống kê ở giai đoạn 2016 - 2018, tốc độ tăng trưởng đàn bò sữa ở việt có mức tăng trưởng bình quân là 2,09%/năm, với tổng doanh thu là 109 nghìn tỷ đồng trong năm 2018”. Đặc biệt, ở giai đoạn 2020 - 2021, mặc dù do tác động của Covid nhưng doanh thu ngành sữa Việt Nam vẫn tăng trưởng ổn định, “Theo Tổng cục Thống kê, năm 2020 doanh thu Sữa Việt ước tính đạt 113.700 tỷ đồng và năm 2021 ước đạt 119. Tăng trưởng doanh thu ngành sữa chủ yếu nhờ vào 2 mảng chính là sữa bột và sữa nước. Sản lượng sữa nước của Việt Nam năm 2021 ước đạt 1.770,1 triệu lít, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2020” (Bích Vân, 2022).
Việt Nam hiện đang đứng thứ tư về năng suất sữa/bò, ở vị trí thứ sáu về tổng sản lượng sữa ở khu vực châu Á. Bên cạnh các thành tựu nuôi bò sữa thực hiện còn chậm, diện tích đất canh tác để trồng cỏ cho bò còn ít. Việc chế biến thức ăn thô, xanh và phụ phẩm nông nghiệp cho bò sữa còn khó khăn; chưa thiết lập được hệ thống về kiểm soát chất lượng sữa tươi nguyên liệu và sữa thành phẩm; thiếu công nghệ bảo quản và chế biến sữa ở cả nông hộ và trang trại. Một số công ty, tập đoàn: TH True milk, Vinamilk, Mộc Châu.
đã đầu tư lớn cho bò sữa, song sản lượng sữa tươi nguyên liệu chưa đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường. Chăn nuôi nông hộ vẫn là chủ yếu, quy trình chăn nuôi chưa khép kín, khiến các hộ nuôi bò gặp khó khăn. 2 Mặt khác, trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt với sữa nguyên liệu nhập khẩu từ nhiều nước, hiện các công ty chế biến sữa áp dụng nghiêm ngặt các chỉ tiêu kỹ thuật, do đó khâu kiểm tra chất lượng phụ thuộc vào các trạm thu gom, nhưng khi có sự cố phát sinh, hộ chăn nuôi phải tự xử lý, thêm tốn kém. Ông Nguyễn Văn Bưởi (huyện Ba Vì, Hà Nội) chia sẻ: Chăn nuôi bò sữa khá vất vả, có thời điểm giá thức ăn, con giống tăng cao, chi phí xây chuồng trại, hệ thống làm mát tốn kém, đặc biệt hơn cả là tình hình phức tạp của dịch bênh và các bệnh khác làm ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn bò.
Với điều kiện là 1 nước nhiệt đới ẩm, VN là đất nước có điều kiện môi trường thuận lợi cho sự sinh sôi và phát triển của vi sinh vật gây bệnh trên bò, trong đó nổi trội nhất có thể nói đến là bệnh viêm vú trên đàn bò sữa, Mỗi năm, ngành chăn nuôi bò sữa thường xuyên phải đối mặt với những căn bệnh gây thiệt hại kinh tế mà cho đến nay vẫn chưa có giải pháp xử lý triệt để. Trong số đó, bệnh viêm vú được xem là căn bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho ngành chăn nuôi bò sữa, bởi những hệ lụy của nó như làm mất khả năng cho sữa của bò, gây chết bò nếu không điều trị kịp thời. Hiện nay tỷ lệ bò cái cho sữa mắc bệnh này lên tới 60%, phải thải loại vật nuôi nếu nhiễm bệnh ở mức nặng. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu cụ thể về các thiệt hại do bệnh viêm vú trên đàn bò ở việt nam chưa được thực hiện trước đây, các số liệu hiện tại chỉ mang tính tham khảo từ nền chăn nuôi bò sữa ở nước ngoài như ở Mỹ, Úc, New Zealand.
Vì thế, trong điều kiện tăng trưởng dương về quy mô chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam thì đây là một đề tài mang tính cấp thiết và sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu sau này để đảm bảo số liệu được khách quan và liên quan chặt chẽ đến nền chăn nuôi và kinh tế trang trại tại việt nam. Qua các lí do trên nên tôi chọn đề tài “Đánh giá thiệt hại kinh tế do bệnh viêm vú tại trang trại chăn nuôi bò sữa ở Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An. Mục tiêu nghiên cứu Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá được cụ thể mức tổn thất kinh tế do bệnh viêm vú trên bò sữa theo đúng đặc thù của điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam 3 Phân tích tỉ lệ thiệt lại do từng loại tổn thất bệnh viêm vú mang lại như: giảm sản lượng sữa, tăng tỉ lệ loại thải, sửa đổ bỏ, chi phí thuốc thú y. So sánh mức thiệt hại do bệnh viêm vú trên đàn bò TH với Quốc Tế Đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại do bệnh viêm vú mang lại 3.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mức thiệt hại về mặt kinh tế và tỉ lệ thiệt hại của các yếu tố ảnh hưởng do bệnh viêm vú gây ra trên đàn bò cho sữa giống Holstein đang được chăn nuôi theo quy mô tập trung tại Xã Nghĩa Sơn, Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An. Chỉ nghiên cứu với những trang trại chăn nuôi tập trung 3. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về thời gian: đề tài tập trung thu thập và phân tích số liệu sơ cấp được trích xuất tại thời điểm của năm 2021, số liệu được chọn là toàn bộ số liệu về bò đã hoàn thành chu kì vắt sữa trong năm 2020 - 2021. Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn có sẵn: Tổng đàn, năng suất sữa của từng các thể, hồ sơ sức khỏe của từng các thể bò, số liệu điều trị bệnh viêm vú.
Phạm vi không gian: Địa điểm nghiên cứu là các trang trại chăn nuôi bò sữa theo quy mô tập trung công nghiệp tại Xã Nghĩa Sơn, Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An. Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu thiệt hại về mặt kinh tế, tỉ trọng của từng loại thiệt hại do bệnh viêm vú trên đàn bò TH và so sánh mức độ thiệt hại/ca viêm vú giữa đàn bò TH và Thế Giới 4. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn 4. Ý nghĩa Khoa học - Đề tài sẽ là một công trình nghiên cứu có hệ thống, lý luận gắn liền với thực tiễn sản xuất.
4 - Chứng minh và làm rõ được mối tương quan giữa các thiệt hại do bệnh viêm vú mang lại. - Kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo chính thống và mang tính thực tiễn cho điều kiện chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam - Kết quả nghiên cứu là tiền đề cho các nghiên cứu thực tiễn xa hơn ở cùng chủ đề để phục vụ cho ngành chăn nuôi bò sữa tập trung tại Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài sẽ mang lại các con số tham khảo thực tiễn và cụ thể về thiệt hại kinh tế của bệnh viêm vú trên bò sữa trong môi trường chăn nuôi tập trung công nghiệp tại Việt Nam - Xác định được mức tổn thất trung bình về kinh tế cho 1 ca viêm vú lâm sàng trên bò. - Giúp nhà chăn nuôi trong nước nhận thấy được mức thiệt hại thông qua 1 con số cụ thể và từ đó giúp nhà chăn nuôi, nhà quản lí nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng ngừa và ra các quyết định tài chính liên quan đến việc điều trị và ngăn ngừa bệnh viêm vú.
- Xác định được mức giảm năng suất sữa trung bình/ca bò bệnh trong 1 chu kì vắt sữa so với bò không bị mắc bệnh viêm vú ở từng chu kì vắt sữa - Xác định được độ tuổi loại thải trung bình của bò bị mắc bệnh viêm vú. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm cơ bản cần làm rõ 1.1 Loại thải: Loại thải bò là hành động xác định đối tượng và loại bỏ một con bò khỏi đàn, giả sử quy mô đàn không đổi hoặc mở rộng, thay thế con bò đó bằng một con bò khác, thường là bò cái tơ đang cho con bú lần đầu. Tỷ lệ loại thải được mô tả bằng % bò bị loại khỏi đàn.
Hiểu rõ được nguyên nhân và tỷ lệ loại thải là nhân tố quan trọng trong quản lý sản xuất sữa và kiểm soát lợi nhuận. Khi các nhà quản lý trang trại bò sữa thực hiện việc loại thải gia súc quá thường xuyên hoặc quá nhanh, chi phí thay thế sẽ là quá cao. Khi người quản lý quyết định giữ nuôi gia súc quá lâu thì khả năng sản xuất sữa, sinh sản hoặc việc cải thiện các chỉ tiêu di truyền có thể bị suy giảm. Theo wikipedia “Loại thải (tiếng Anh: Culling) hay Vật nuôi thải loại chỉ việc tiêu hủy, loại bỏ đi những cá thể không mong muốn hoặc đã chết do dịch bệnh[1] hiện nay, khái niệm này được mở rộng hơn, vì sự rời đi của con bò ra khỏi đàn do việc bán (sold), giết mổ (slaughter), tận thu (salvage) hoặc bị chết (died) đều được gọi là loại thải, tương ứng là thuật ngữ tỉ lệ hao hụt (Herd turnover rate)”.
Loại thải tự nguyện “là cho trường hợp bán bò để nuôi vắt sữa hoặc cho mục đích khác với điều kiện bò được bán bình thường về sức khỏe cũng như năng suất bình thường” (Wikipedia, 2022). Loại Thải không tự nguyện là việc loại thải bò có liên quan đến lí do sức khỏe như đau chân móng, tai nạn, không có khả năng sinh sản hoặc kém khả năng sinh sản, bệnh viêm vú, bệnh khác. Cách phân loại này không phản ánh thực tế của quyết định loại thải hoặc bản chất lý do tại sao con bò được loại thải. Quá trình phân loại nguyên nhân loại thải hay bị mắc lỗi thiên lệch và sai.2 Chất lượng sữa Theo Cooley (n.d), Chất lượng sữa tươi nguyên liệu được đánh giá dựa theo 4 tiêu chí chính: số lượng tế bào soma trong sữa, Không có tồn dư thuốc kháng sinh; tỉ lệ béo và protein trong sữa.
Theo khảo sát từ Progressive Dairy, có đến chín mươi bốn phần trăm nông dân chăn nuôi bò sữa đồng ý rằng tế bào soma thấp và số lượng vi khuẩn thấp là một trong những chỉ tiêu quan trọng của định nghĩa về chất lượng sữa.