Luận văn thạc sĩ VNU UET về thiết bị đo tự động bức xạ của anten

Luận văn thạc sĩ VNU UET trình bày thiết bị đo tự động đặc trưng bức xạ của anten, góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
111
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CHỐNG SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ

1.1. Khái quát chung về hàng giả

1.2. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả

1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả

1.2.2. Cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả

1.2.2.1. Chính phủ
1.2.2.2. Các Bộ chuyên ngành
1.2.2.3. Ủy ban nhân dân các cấp
1.2.2.4. Các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở Việt Nam
1.2.2.4.1. Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự kinh tế và chức vụ (Bộ Công an)
1.2.2.4.2. Lực lượng Quản lý thị trường
1.2.2.4.3. Lực lượng Hải quan
1.2.2.4.4. Thanh tra chuyên ngành
1.2.2.5. Các tổ chức khác

1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về chống sản xuất và buôn bán hàng giả

1.2.3.1. Hoạch định chính sách và xây dựng, ban hành pháp luật về chống sản xuất và buôn bán hàng giả
1.2.3.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về chống sản xuất và buôn bán hàng giả
1.2.3.3. Thanh tra, kiểm tra và xử lý những vi phạm pháp luật liên quan đến hàng giả

1.2.4. Ý nghĩa và vai trò của quản lý nhà nước trong công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả đối với sự ổn định và phát triển kinh tế

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CHỐNG SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ Ở VIỆT NAM

2.1. Thực trạng pháp luật điều chỉnh về công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở Việt Nam

2.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề sản xuất và buôn bán hàng giả

2.1.2. Những quy định của pháp luật nước ta về chống sản xuất và buôn bán hàng giả

2.1.3. Ban hành các văn bản pháp quy làm cơ sở pháp lý cho công tác phòng chống sản xuất và buôn bán hàng giả

2.1.4. Ban hành một số văn bản pháp luật quy định về sở hữu trí tuệ liên quan đến hàng giả

2.1.5. Các văn bản pháp luật khác có liên quan đến đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả

2.1.6. Quy định tội phạm về hàng giả và liên quan đến hàng giả

2.1.7. Những văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Nam tham gia liên quan đến hàng giả

2.1.8. Những tồn tại về nhận thức và quy định của pháp luật trong công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả

2.2. Kết quả công tác quản lý nhà nước và đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở Việt Nam

2.2.1. Hiệu quả và hiệu lực trong quản lý nhà nước về chống sản xuất và buôn bán hàng giả

2.2.2. Kết quả công tác đấu tranh, xử lý chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở nước ta

2.2.3. Những tồn tại trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực chống sản xuất và buôn bán hàng giả

2.3. Kinh nghiệm của một số quốc gia trong công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả

2.3.1. Chống sản xuất và buôn bán hàng giả tại Hàn Quốc

2.3.2. Chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở Nhật Bản

2.3.3. Những kinh nghiệm từ thực trạng hai quốc gia trên

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ Ở VIỆT NAM

3.1. Dự báo về tình hình sản xuất và buôn bán hàng giả ở nước ta trong thời gian tới

3.1.1. Bối cảnh quốc tế

3.1.2. Bối cảnh trong nước

3.1.3. Phương thức, thủ đoạn trong sản xuất và buôn bán hàng giả ngày càng tinh vi và phức tạp hơn

3.1.4. Chủng loại hàng giả được sản xuất và buôn bán đa dạng, phức tạp hơn

3.1.5. Đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng đa dạng, mang tính chuyên nghiệp và tinh vi hơn

3.1.6. Địa bàn sản xuất và buôn bán hàng giả chủ yếu tập trung ở các khu đô thị, khu công nghiệp, khu vực giáp ranh và địa bàn đông dân cư

3.2. Các yêu cầu đối với việc phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước và đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả

3.2.1. Yêu cầu khách quan

3.2.2. Yêu cầu chủ quan

3.2.3. Kết quả công tác quản lý nhà nước và đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế ở nước ta

3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước và đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở nước ta

3.3.1. Nâng cao hơn nữa nhận thức về hậu quả của việc sản xuất và buôn bán hàng giả

3.3.2. Hoàn thiện pháp luật và cơ chế chính sách về chống sản xuất và buôn bán hàng giả

3.3.3. Kiện toàn các cơ quan quản lý và đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả

3.3.4. Nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức và có chính sách thoả đáng đối với những người làm công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả

3.3.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý trong lĩnh vực chống sản xuất và buôn bán hàng giả

3.3.6. Tăng cường công tác hợp tác quốc tế về chống sản xuất và buôn bán hàng giả

3.4. Kết luận

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về thiết bị đo tự động bức xạ anten

Thiết bị đo tự động bức xạ anten là một phần quan trọng trong nghiên cứu và phát triển công nghệ viễn thông. Thiết bị này giúp đo lường và phân tích các thông số bức xạ của anten, từ đó cải thiện hiệu suất và độ chính xác trong truyền dẫn tín hiệu. Việc sử dụng thiết bị này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn tiết kiệm thời gian và chi phí cho các nhà nghiên cứu và kỹ sư.

1.1. Khái niệm và vai trò của thiết bị đo bức xạ anten

Thiết bị đo bức xạ anten là công cụ dùng để xác định mức độ bức xạ và phân bố năng lượng của anten trong không gian. Vai trò của thiết bị này rất quan trọng trong việc tối ưu hóa thiết kế anten và đảm bảo rằng các thông số kỹ thuật được đáp ứng.

1.2. Lịch sử phát triển thiết bị đo bức xạ anten

Thiết bị đo bức xạ anten đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ những năm đầu của công nghệ viễn thông. Các công nghệ mới như cảm biến quang học và kỹ thuật số đã được áp dụng để nâng cao độ chính xác và hiệu suất của thiết bị.

II. Vấn đề và thách thức trong đo lường bức xạ anten

Mặc dù thiết bị đo tự động bức xạ anten mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong quá trình đo lường. Các yếu tố như nhiễu sóng, điều kiện môi trường và độ chính xác của thiết bị có thể ảnh hưởng đến kết quả đo. Việc hiểu rõ các vấn đề này là cần thiết để cải thiện quy trình đo lường.

2.1. Nhiễu sóng và ảnh hưởng đến kết quả đo

Nhiễu sóng từ các thiết bị điện tử khác có thể làm sai lệch kết quả đo bức xạ. Việc sử dụng các bộ lọc và kỹ thuật xử lý tín hiệu là cần thiết để giảm thiểu ảnh hưởng này.

2.2. Điều kiện môi trường và độ chính xác của thiết bị

Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm và áp suất có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của thiết bị đo. Cần có các biện pháp kiểm soát môi trường để đảm bảo kết quả đo chính xác.

III. Phương pháp đo lường bức xạ anten hiệu quả

Để đạt được kết quả đo chính xác, cần áp dụng các phương pháp đo lường hiện đại. Các phương pháp này bao gồm sử dụng cảm biến quang học, kỹ thuật số và các phần mềm phân tích dữ liệu. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp sẽ giúp tối ưu hóa quy trình đo lường.

3.1. Sử dụng cảm biến quang học trong đo lường

Cảm biến quang học có khả năng đo lường chính xác bức xạ anten trong các điều kiện khác nhau. Công nghệ này giúp cải thiện độ nhạy và độ chính xác của thiết bị.

3.2. Phân tích dữ liệu bằng phần mềm chuyên dụng

Sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu giúp xử lý và phân tích kết quả đo một cách hiệu quả. Các phần mềm này có thể cung cấp các biểu đồ và báo cáo chi tiết về hiệu suất của anten.

IV. Ứng dụng thực tiễn của thiết bị đo bức xạ anten

Thiết bị đo tự động bức xạ anten có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực như viễn thông, nghiên cứu khoa học và công nghệ. Việc áp dụng thiết bị này giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và tối ưu hóa quy trình sản xuất anten.

4.1. Ứng dụng trong ngành viễn thông

Trong ngành viễn thông, thiết bị đo bức xạ anten giúp cải thiện chất lượng tín hiệu và giảm thiểu hiện tượng nhiễu. Điều này rất quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ viễn thông ổn định và chất lượng cao.

4.2. Nghiên cứu và phát triển công nghệ mới

Thiết bị đo bức xạ anten cũng được sử dụng trong nghiên cứu và phát triển công nghệ mới. Việc đo lường chính xác giúp các nhà nghiên cứu phát triển các anten với hiệu suất cao hơn.

V. Kết luận và tương lai của thiết bị đo bức xạ anten

Thiết bị đo tự động bức xạ anten đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu suất và chất lượng của anten. Tương lai của thiết bị này hứa hẹn sẽ có nhiều cải tiến với sự phát triển của công nghệ. Việc nghiên cứu và phát triển các giải pháp mới sẽ giúp tối ưu hóa quy trình đo lường và ứng dụng trong thực tiễn.

5.1. Xu hướng phát triển công nghệ đo lường

Công nghệ đo lường bức xạ anten sẽ tiếp tục phát triển với sự xuất hiện của các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo và Internet of Things (IoT).

5.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong lĩnh vực này

Nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực đo lường bức xạ anten sẽ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ viễn thông và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CHỐNG SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 1. Khái quát chung về hàng giả 1. Quan niệm về hàng giả Hàng giả đã xuất hiện trên thị trường nước ta trong nhiều năm trở lại đây, nhất là từ khi chúng ta đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ chế độ quản lý tập trung bao cấp sang quản lý hạch toán kinh doanh, đặc biệt trong thời kỳ kinh tế thị trường thì nạn làm hàng giả và buôn bán hàng giả ngày càng phát triển. Trong lý luận và thực tiễn hiện tồn tại nhiều quan niệm về hàng giả.

Trước hết, tìm hiểu khái niệm về hàng hoá và thế nào là giả: “Hàng hoá là sản phẩm dùng để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua trao đổi” [43, tr. 214], còn "Giả có nghĩa không phải là thật mà được làm với bề ngoài giống như cái thật để người khác tưởng là thật" [44, tr. Theo từ điển Bách khoa toàn thư: "Hàng giả là hàng làm bắt chước theo mẫu mã của loại hàng thật nào đó đang được lưu hành, nhưng không bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn. Về hình thức, các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi.

Người làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem nhãn của hàng thật để lừa gạt người mua" [45]. Khái niệm này thực ra chỉ là giải thích về mặt ngôn ngữ, mà chưa phải là khái niệm mang tính pháp lý, thể hiện bản chất của hàng giả. Ở đây chúng tôi không đi sâu vào thuật ngữ về hàng giả nói chung, mà chỉ nghiên cứu tìm hiểu khái niệm về hàng giả được quy định trong các văn bản pháp luật. LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.com Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả nêu rõ: "Hàng giả là những sản phẩm hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như sản phẩm được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường, hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó" (Điều 3).

Sản phẩm, hàng hoá có một trong những dấu hiệu dưới đây được coi là hàng giả: - Sản phẩm, hàng hoá (kể cả hàng nhập khẩu) có nhãn sản phẩm giả mạo hoặc nhãn sản phẩm của một cơ sở sản xuất khác mà không được chủ nhãn đồng ý; - Sản phẩm, hàng hoá mang nhãn hiệu hàng hoá giống hệt hoặc tương tự có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của cơ sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Cục sáng chế), hoặc đã được bảo hộ theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; - Sản phẩm, hàng hoá mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng; - Sản phẩm, hàng hoá ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam; - Sản phẩm, hàng hoá đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ quan Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức tối thiểu cho phép; - Sản phẩm, hàng hoá có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất, tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó (Điều 4) [15, tr. Trong quá trình thực hiện những quy định này đã cho thấy hàng giả được quy định tại Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng LUAN VAN CHAT LUONG download6 : add luanvanchat@agmail.com nói trên chưa thể hiện rõ các dấu hiệu về mặt bản chất của hàng giả; khái niệm về hàng giả còn được đề cập chung chung dưới dạng liệt kê. Hoạt động của thực tiễn đòi hỏi phải có sự phân định rõ ràng hơn về hàng giả giúp cho công tác đấu tranh ngăn ngừa, chống hàng giả tránh được những khó khăn trong xử lý các hành vi vi phạm. Đến nay, Nghị định này đã hết hiệu lực thi hành.

Thông tư Liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27/4/2000 của Liên Bộ Thương mại, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả đã quy định hàng hoá có một trong các dấu hiệu sau đây bị coi là hàng giả: Một là, hàng giả chất lượng hoặc công dụng. - Hàng hoá không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng như bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó. - Hàng hoá đưa thêm tạp chất, chất phụ gia không được phép sử dụng làm thay đổi chất lượng; không có hoặc có ít dược chất, có chứa dược chất khác với tên dược chất ghi trên nhãn hoặc bao bì; không có hoặc không đủ hoạt chất, chất hữu hiệu không đủ gây nên công dụng; có hoạt chất, chất hữu hiệu khác với tên hoạt chất, chất hữu hiệu ghi trên bao bì. - Hàng hoá không đủ thành phần nguyên liệu hoặc bị thay thế bằng những nguyên liệu, phụ tùng khác không đảm bảo chất lượng so với tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá đã công bố, gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khỏe người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường.

- Hàng hoá thuộc danh mục Tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng mà không thực hiện gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khỏe người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường. LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.com - Hàng hoá chưa được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn mà sử dụng giấy chứng nhận hoặc dấu phù hợp tiêu chuẩn (đối với danh mục hàng hoá bắt buộc). Hai là, giả về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá: - Hàng hoá có nhãn hiệu hàng hoá trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đang được bảo hộ cho cùng loại hàng hoá kể cả nhãn hiệu hàng hoá đang được bảo hộ theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, mà không được phép của chủ nhãn hiệu. - Hàng hoá có dấu hiệu hoặc có bao bì mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ hoặc với tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ.

- Hàng hoá, bộ phận của hàng hoá có hình dáng bên ngoài trùng với kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ mà không được phép của chủ kiểu dáng công nghiệp. - Hàng hoá có dấu hiệu giả mạo về chỉ dẫn nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá gây hiểu sai lệch về nguồn gốc, nơi sản xuất, nơi đóng gói, lắp ráp hàng hoá. Ba là, giả về nhãn hàng hoá - Hàng hoá có nhãn hàng hoá giống hệt hoặc tương tự với nhãn hàng hoá của cơ sở khác đã công bố. - Những chỉ tiêu ghi trên nhãn hàng hoá không phù hợp với chất lượng hàng hoá nhằm lừa dối người tiêu dùng.

- Nội dung ghi trên nhãn bị cạo, tẩy xoá, sửa đổi, ghi không đúng thời hạn sử dụng để lừa dối khách hàng. Bốn là, các loại ấn phẩm đã in sử dụng vào việc sản xuất, tiêu thụ hàng giả: LUAN VAN CHAT LUONG download8 : add luanvanchat@agmail.com - Các loại đề can, tem sản phẩm, nhãn hàng hoá, mẫu nhãn hiệu hàng hoá, bao bì sản phẩm có dấu hiệu vi phạm như: trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hàng hoá cùng loại, với nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ. - Các loại hoá đơn, chứng từ, chứng chỉ, tem, vé, tiền, ấn phẩm có giá trị như tiền, ấn phẩm và sản phẩm văn hoá giả mạo khác [37, tr. Theo Thông tư liên tịch này thì hàng giả có hai loại: giả về chất lượng, công dụng và giả về hình thức.

Hàng giả về chất lượng, công dụng thường là những hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với tên gọi, công dụng của nó, không đảm bảo tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật đã được quy định. Còn hàng giả về hình thức có nghĩa là giả về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, nhãn hàng hóa. Tuy nhiên, Thông tư này đến nay đã không còn phù hợp với thực tiễn, chưa xác định được khái niệm “hàng giả về sở hữu trí tuệ”, cho nên cũng không xác định được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong việc sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá hàng giả, chưa phân biệt được rõ ràng giữa hàng giả và hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ - tức là những hàng hoá được làm ra do hành vi sử dụng trái phép các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, mà quy định như vậy hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có một bộ phận bị trùng nhau. Thực chất, hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp cũng là một loại hàng giả, song để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thực thi pháp luật có sự áp dụng đúng đắn thì việc phân biệt khái niệm hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là rất cần thiết.

Do không có quy định cụ thể và rõ ràng về vấn đề này nên trong thực tế, không chỉ người dân mà ngay cả các cơ quan chức năng khi thực thi pháp luật vẫn chưa có sự phân định rõ giữa hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Điều này dẫn đến sự không thống nhất trong hoạt động áp dụng pháp luật. Khắc phục những hạn chế nêu trên, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đề LUAN VAN CHAT LUONG download9 : add luanvanchat@agmail.com cập được các hành vi “Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này” (Điểm c Khoản 1 Điều 211), mà các loại hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ này được quy định cụ thể tại Điều 213, Luật này như sau: 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ