Mở đầu: giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 1-Tổng quan về phƣơng pháp khuyến nông Trong phần này đề cập tổng quát các phƣơng pháp khuyến nông thƣờng đƣợc áp dụng trên thế giới và các phƣơng pháp khuyến nông đang áp dụng ở Việt Nam. Trong phần này cũng đề cập đến các nguyên tắc cơ bản của phƣơng pháp phát triển kỹ thuật có sự tham gia PTD. Chƣơng 2- Hoạt động và thể chế của khuyến nông tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trong chƣơng này trình bày tổng quát về tổ chức khuyến nông nói chung và tổ chức khuyến nông BR-VT nói riêng, phân tích quá trình xây dựng kế hoạch, quá trình triển khai các mô hình khuyến nông để làm cơ sở cho việc phân tích, đối chiếu với việc áp dụng PTD trong hoạt động khuyến nông. Chƣơng 3- Áp dụng thử nghiệm PTD ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Chƣơng này giới thiệu tổng quát quá trình áp dụng thử nghiệm phƣơng pháp PTD ở tỉnh BR-VT từ năm 2005-2009, và những kết quả và hạn chế của phƣơng pháp này.
Chƣơng 4- Chính sách thể chế PTD Đây là chƣơng tổng hợp từ các chƣơng trƣớc trên cơ sở phân tích các thể chế (tổ chức, cơ chế hoạt động, các luật lệ) để xem xét sự tƣơng tích giữa hoạt động khuyến nông hiện tại và phƣơng pháp PTD, đề xuất cách thức áp dụng và cải tiến cần thiết PTD trong điều kiện của tỉnh BR-VT. Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chƣơng 1 – TỔNG QUÁT VỀ PHƢƠNG PHÁP KHUYẾN NÔNG 1.1 Các phƣơng pháp khuyến nông Theo George (1992) [6] có 8 phƣơng pháp khuyến nông phổ biến: (1) Khuyến nông chung; (2) Khuyến nông chuyên ngành; (3) Khuyến nông đào tạo và tham quan (Training and Visit); (4) Khuyến nông có sự tham gia; (5) Khuyến nông dự án; (6)Khuyến nông theo hệ thống nông nghiệp; (7) Khuyến nông cùng chịu phí tổn; (8) Khuyến nông theo tổ chức giáo dục (xem phụ lục 1). Tuy là tám phƣơng pháp khuyến nông, nhƣng giữa các phƣơng pháp này có những đặc điểm chung: (i) sử dụng các hình thức đào tạo không chính thức; (ii) nội dung hoạt động liên quan đến nông nghiệp; (iii) tìm cách nâng cao mức sống của nhân dân nông thôn (George, 1992) [8]. Theo Cục Khuyến nông- Khuyến lâm (1995) [3] (nay là Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngƣ Quốc gia – gọi tắt theo tên tiếng Anh là NAFEC) ở Việt Nam, có bốn phƣơng pháp khuyến nông áp dụng phổ biến: (1) Khuyến nông thực hiện theo chƣơng trình, dự án; (2) Khuyến nông xây dựng mô hình, tổ chức đào tạo, tham quan tại chỗ; (3) Phƣơng pháp khuyến nông có sự tham gia: Chủ yếu áp dụng trong các chƣơng trình, dự án do các tổ chức nƣớc ngoài tài trợ cho Việt Nam nhƣ các lớp tập huấn FFS (Farmer Field School), PTD; (4) Phƣơng pháp khuyến nông có sự hỗ trợ kinh phí hoặc vật chất của nhà nƣớc.
Nhà nƣớc hỗ trợ nông dân để chi phí cho: (i) phần vật tƣ chênh lệch do ứng dụng các tiến bộ mới phát sinh (chiếm 30-40% chi phí); (ii) tổ chức tập huấn và tham quan hội thảo đầu bờ của mô hình. Hiện tại, bốn phƣơng pháp khuyến nông này đƣợc áp dụng ở tỉnh BR-VT, trong đó phƣơng pháp khuyến nông có sự tham gia, cụ thể là phƣơng pháp phát triển kỹ thuật có sự tham gia PTD đã đƣợc giới thiệu từ năm 2005 cho đến nay. Phƣơng pháp này đƣợc xem là phƣơng pháp khuyến nông mới, đáp ứng đƣợc nhu cầu của nông dân hơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 so với phƣơng pháp khuyến nông tiếp cận theo hƣớng chỉ đạo từ trên xuống (top- down).2 Phƣơng pháp tham gia 1.1 Khái niệm về phƣơng pháp tham gia Có nhiều định nghĩa cũng nhƣ cách giải thích về phƣơng pháp tham gia, theo Sofie Dhollander (2007) [9] phƣơng pháp tham gia bao hàm hoạt động của nhiều ngƣời trong các tổ chức khác nhau dẫn đến các đổi mới bền vững cho nông dân. Mặc dù có các phƣơng cách khác nhau trong sử dụng phƣơng pháp tham gia, hầu nhƣ có cùng nguyên tắc chính là: Gồm phƣơng pháp luận đƣợc xác định và tiến trình học tập hệ thống Mềm dẻo Học tập theo nhóm Nội dung chuyên biệt Chuyên gia và nông dân tham gia Dẫn tới sự thay đổi 1.2 Lịch sử phát triển của phƣơng pháp tham gia Phƣơng pháp tham gia đƣợc sử dụng ngày nay có nhiều nguồn gốc, năm trong số này có tầm quan trọng đặc biệt (Jules N Pretty -1995) [16]: (i) Nghiên cứu tham gia của các nhà xã hội học-APR (Activist Participatory Research) đƣợc đƣa ra bởi Paulo Freire vào năm 1968.
Phƣơng pháp này sử dụng đối thoại và tham gia trong nghiên cứu để tăng cƣờng nhận thức, sự tự tin của ngƣời dân và trao quyền cho họ trong hành động. Đóng góp chính của phƣơng pháp này cho phƣơng pháp tham gia hiện nay là nhận thấy ngƣời dân thì sáng tạo, có năng lực và nên trao quyền cho họ, những ngƣời bên ngoài (outsiders) giữ vai trò nhƣ là một tác nhân xúc tác, thúc đẩy cho các hoạt động của ngƣời dân diễn ra tốt hơn, nhanh hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 (ii) Phân tích sinh thái nông nghiệp- AEA (Agro-Ecosystem Analysis): Đƣợc phát triển bởi Godon Conway (1987), phƣơng pháp này kết hợp phân tích hệ thống với phân tích không gian, thời gian, các dòng vật chất và mối quan hệ, các giá trị tƣơng đối và các quyết định. Đóng góp của phƣơng pháp này cho phƣơng pháp tham gia ngày nay là sử dụng các sơ đồ lát cắt (transects), xây dựng các bản đồ, sơ đồ không chính thức, sử dụng cách cho điểm, xếp hạng.
(iii) Nhân loại học ứng dụng (Applied Anthropology): Mặc dù Nhân loại học - xã hội học truyền thống quan tâm chủ yếu để hiểu hơn là làm cho thay đổi. Phƣơng pháp này đƣợc thừa nhận vào những năm thập niên 80, nó nhấn mạnh việc quan sát ngƣời tham gia, các cuộc trao đổi và tầm quan trọng của thái độ, hành vi và sự hòa hợp. (iv) Nghiên cứu hệ thống canh tác – FSR (Farming Systems Research): Có hai nguyên tắc trong FSR là xem các hoạt động của các nông hộ nhỏ nhƣ là những nhà thử nghiệm. Do đó trọng tâm của phƣơng pháp này là sự tham gia của ngƣời dân trong nghiên cứu nông nghiệp, đặc biệt là nghiên cứu những mối quan hệ, sự đa dạng và chống rủi ro trong hệ thống canh tác.
(v) Đánh giá nhanh nông thôn RRA (Rapid Rural Appraisal): Phƣơng pháp này nổi lên từ cuối thập niên 70. Sử dụng phƣơng pháp này đảm bảo cho các nhà nghiên cứu thu đƣợc thông tin từ ngƣời dân về điều kiện nông thôn với chi phí thấp và thời gian hợp lý. Nó khắc phục đƣợc tính nhàm chán, tốn kém và thông tin thiếu chính xác trong các cuộc khảo sát bằng các bảng câu hỏi. Trên cơ sở phƣơng pháp RRA, sau này phƣơng pháp đánh giá nông thôn có sự tham – PRA (Participatory Rural Appraisal) đƣợc phát triển và đƣợc sử dụng phổ biến trong các phƣơng pháp tham gia.
Do các phƣơng pháp AEA, FSR, RRA đều không thích hợp trong việc chuyển giao kỹ thuật cho nông dân. Nên vào thập niên 1980 nổi lên phƣơng pháp phát triển kỹ thuật có sự tham gia - PTD (Participatory Technology Development), đƣợc xem nhƣ là một phƣơng pháp chuyển giao kỹ thuật đáp ứng theo nhu cầu của nông dân đƣợc sử dụng trong các tổ chức nghiên cứu về phát triển nông nghiệp, nông thôn và phù hợp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 với hoạt động khuyến nông. Trong những năm gần đây (từ năm 2000), nổi lên phƣơng pháp PAR – Participatory Action Research (tạm dịch là Tham gia hành động trong nghiên cứu) với ba nội dung chính: nghiên cứu, giáo dục và các hoạt động chính trị-xã hội. Phƣơng pháp này không chỉ giải quyết các vấn đề kỹ thuật cho nông dân mà còn đƣợc xem nhƣ là phƣơng pháp để phát triển nông thôn.
Các dạng tham gia Theo Pretty (1994, đƣợc trích bởi Jules N. Pretty, Irene Guijt, Ian Scooner và John Thomas, 1995) [16] có bảy cách cơ bản để giải thích và sử dụng thuật ngữ tham gia, xếp hạng từ tham gia thụ động, trong trƣờng hợp này ngƣời dân chỉ nói cái gì sẽ xảy ra, đến tự hành động, ngƣời dân chủ động (xem phụ lục 2). Tuy nhiên, nếu mục tiêu là để đạt đƣợc phát triển bền vững, thì tham gia theo chức năng là đủ (Sofie Dhollander - 2007) [9] (mức 5). Việc áp dụng PTD có thể thúc đẩy nông dân tham gia vào hoạt động khuyến nông ở mức 6, tức là tham gia tƣơng hỗ.
Hiện nay phần lớn trong hoạt động khuyến nông Việt Nam thƣờng mức độ tham gia của nông dân ở mức 4 là phổ biến, tức là trong các hoạt động khuyến nông, ngƣời nông dân tham gia vì các khuyến khích vật chất nhiều hơn, thể hiện qua các mức hỗ trợ tham gia thực hiện các mô hình khuyến nông, đôi khi những mô hình này là không cần thiết đối với nông dân.1 Lợi ích và phí tổn cho việc áp dụng phƣơng pháp tham gia Lợi ích Phí tổn -Đạt đƣợc những thành tựu với chi phí thấp -Tốn nhiều thời gian -Phá vỡ đƣợc các rào cản (văn hóa, xã hội) -Đóng góp tự nguyện -Tăng cƣờng tiến trình dân chủ hóa -Chịu trách nhiệm những gì phát biểu -Xây dựng các mối quan hệ -Mất lợi thế cạnh tranh -Sự thừa nhận tình trạng xã hội -Mất quyền sở hữu ý tƣởng cá nhân -Tạo đƣợc niềm tin và sự nhân nhƣợng -Trách nhiệm tình nguyện -Tạo ra quyền sở hữu nhóm -Tăng xung đột -Xây dựng mạng lƣới và liên kết -Mất quyền lực -Có cái nhìn rộng hơn -Tốn chi phí đàm phán -Đƣợc huấn luyện và tăng cƣờng các kỹ năng (Nguồn: Viện Nghiên cứu Quốc tế Tái thiết nông thôn IIRR, 2006) [15] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Phƣơng pháp tham gia cũng có nhiều lợi ích, nhƣng cũng có cái giá phải trả (phí tổn) cho việc áp dụng phƣơng pháp này. Một trong những giá phải trả (phí tổn) thƣờng gặp đó là tốn nhiều thời gian. Có thể liệt kê một số lợi ích, cũng nhƣ chi phí khi áp dụng phƣơng pháp tham gia (bảng 1.4 Phƣơng pháp phát triển kỹ thuật có sự tham gia – PTD 1.1 Khái niệm về PTD Theo Sofie Dhollander (2007) [9], PTD là một phƣơng pháp tạo sự tham gia, nông dân dẫn dắt khuyến nông viên, và làm cho hoạt động và việc học tập thông qua thực hành đƣợc thực hiện trên đồng ruộng của nông dân. Nguyên tắc chính của phƣơng pháp này là ngƣời nông dân học tốt nhất bằng kinh nghiệm của họ, thay vì đƣợc đào tạo, giảng dạy nhƣ trong môi trƣờng lớp học.