Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính Chương 2. Tình hình giải quyết các vụ án hành chính ở cấp phúc thẩm và Thực trạng thực hiện thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Một số đề xuất kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THẨM QUYỀN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1.
Khái niệm vụ án hành chính Trong quản lý nhà nước, sự xung đột về lợi ích giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân là lý do phát sinh các tranh chấp hành chính. Tòa án không phải là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hành chính (theo nghĩa hẹp) nhưng nếu các tranh chấp này được giải quyết tại Tòa án theo thủ tục tố tụng thì vụ án hành chính được phát sinh. Ở Việt Nam, vụ án hành chính là vụ án phát sinh khi cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân và được Tòa án thụ lý và giải quyết theo trình tự, thủ tục do pháp luật Tố tụng hành chính quy định (Điều 30 Luật TTHC 2015). Như vậy, để được coi là vụ án phát sinh thì ít nhất phải có việc khởi kiện hợp lệ và phải được tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết.
Việc trao cho Tòa án thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính là nhằm tạo ra cơ chế riêng, độc lập để giải quyết khách quan, công khai, dân chủ, công bằng hơn, phù hợp với đối tượng khởi kiện là các quyết định hay hành vi hành chính của cơ quan công quyền, chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Bên cạnh đó, việc xét xử các vụ án hành chính tại Tòa án còn có tác dụng giám sát đối với hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, góp phần khắc phục những sai lầm của các cơ quan đó, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong hệ thống hành chính nhà nước. Trong vụ án hành chính, có các chủ thể gồm các đương sự và những người tham gia tố tụng khác. Vụ án hành chính có những điểm khác biệt quan trọng so với các loại án khác, nhất là án dân sự, kinh tế, lao động.
8 Trước hết về cơ sở phát sinh: Vụ án hành chính chỉ phát sinh khi có việc khởi kiện vụ án theo quy định của Luật TTHC, trong đó đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri). Đây là quan hệ giữa người khởi kiện và người bị kiện, trong đó người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri); người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri bị khởi kiện. Ngoài ra, còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Thứ hai, đơn khởi kiện vụ án hành chính phải được tòa án nhân dân có thẩm quyền thụ lý giải quyết.
Nói cách khác, nếu đơn khởi kiện không được thụ lý thì không phát sinh vụ án hành chính (Tòa án quân sự các cấp không có thẩm quyền thụ lý và giải quyết các vụ án hành chính). Như vậy, bản chất của vụ án hành chính thể hiện tập trung ở việc cá nhân, tổ chức kiện các cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước tại cơ quan tư pháp và theo thủ tục tư pháp mà không phải thủ tục hành chính như thủ tục khiếu nại được quy định bởi Luật Khiếu nại. Giải quyết vụ án hành chính bằng tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp bảo đảm sự bình đẳng, khách quan, vô tư và độc lập hơn giữa cá nhân, tổ chức với cơ quan công quyền 9 1. Khái niệm, đặc điểm về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 1.
Khái niệm xét xử phúc thẩm vụ án hành chính và Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính Xét xử các vụ án là hoạt động của Tòa án tại phiên tòa để xem xét các chứng cứ và các căn cứ pháp luật, nhằm đưa ra bản án và các quyết định của Tòa án. Đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do Tòa án thực hiện trong việc giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và hành chính. Ở Việt Nam hiện nay có ba loại tố tụng tư pháp được quy định để giải quyết các vụ án và các loại tranh chấp khác tại Tòa án, đó là Tố tụng hình sự, Tố tụng Dân sự và Tố tụng hành chính, trong đó các vụ án hành chính được giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính (Luật Tố tụng hành chính năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2015). Quá trình giải quyết vụ án hành chính, cũng như các loại án khác, nếu qua tất cả các giai đoạn thì sẽ gồm xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xát xử giám đốc thẩm và xét xử tái thẩm.
Các giai đoạn của quá trình tố tụng được quy định và phân biệt với nhau theo cơ sở phát sinh, tính chất, nhiệm vụ, thủ tục tiến hành và hậu quả của việc giải quyết vụ án tại từng giai đoạn. Tuy nhiên không phải vụ án nào cũng bắt buộc phải qua tất cả các giai đoạn nói trên vì phụ thuộc vào cơ sở phát sinh mà luật quy định. Theo Điều 203 Luật TTHC quy định về tính chất của xét xử phúc thẩm thì “xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”. Giải quyết phúc thẩm là nội dung cơ bản của nguyên tắc hai cấp xét xử đối với các vụ án hành chính, trừ trường hợp xét xử vụ án hành chính đối với khiếu kiện danh sách cử tri theo Điều 11 Luật TTHC năm 2015.
Theo nguyên tắc này và quy định tại Điều 203 Luật TTHC 2015 thì Tòa án cấp phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai. Tòa án cấp phúc thẩm là tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì vụ án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Như vậy, thủ tục phúc thẩm không phải là bắt buộc mà chỉ phát sinh khi có đơn kháng cao hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đúng pháp luật (Điều 10 204 và Điều 211 Luật TTHC năm 2015).
Kháng cáo, kháng nghị được coi là đúng pháp luật và là điều kiện phát sinh thủ tục phúc thẩm khi: - Kháng cáo kháng nghị được thực hiện bởi các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật - Kháng cáo kháng nghị được thực hiện trong thời hạnh pháp luật quy định - Bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Như vậy, xét xử phúc thẩm vụ án hành chính là việc Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị để đảm bảo cho các bản án và các quyết định của Tòa án được khách quan, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước. Xét xử púc thẩm VAHC được tiến hành bằng HĐXX. Theo từ điển Tiếng việt thì Hội đồng được định nghĩa như sau: “Hội đồng là tập thể những người được chỉ định hoặc bầu ra để họp bàn và quyết định những công việc nhất định nào đó”1.
Điều 217 Luật tố tụng hành chính 2015 quy định: Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa, phiên họp. Và điều 222 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định về Thành phần của Hội đồng xét xử vụ án hành chính gồm: 03 thẩm phán trừ việc xét xử phúc thẩm vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn do một thẩm phán thực hiện (Khoản 1 điều 253 Bộ luật TTHC 2015) Có thể thấy, thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm được quy định tương tự như quy định của Luật TTHC 2010 gồm 3 thẩm phán.