Chương 1: Giới thiệu đề tài: Trình bày lý do tác giả chọn đề tài, bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đưa ra câu hỏi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết, định nghĩa các khái niệm về sự tham gia của người dân và các nghiên cứu có liên quan rút ra mô hình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu: Trình bày thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu, xây dựng thang đo và phương pháp phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu: Trình bày phân tích, diễn giải kết quả thu thập được từ cuộc khảo sát.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, kiến nghị những giải pháp gia tăng sự tham gia của người dân đối với chương trình phân loại CTRSHTN; đóng góp của nghiên cứu trong thực tiễn. 123doc 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Về sự tham gia (Participation): Tham gia là sự can dự của người dân trong tiến trình ra quyết định, trong thực hiện chương trình, chia sẻ quyền lực của các chương trình phát triển (Cohen và Uphoff, 1977) Sự tham gia cũng là một quá trình trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chương trình và môi trường ảnh hưởng đến họ (Florin vàiWandersman, 1990).
Tổ chức Y tế Thế giới (ICE, 2001) cho rằng sự tham gia có thể là một yếu tố nguồn cho sự hiểu biết rõ hơn của một vấn đề tác động đến quyết định và môi trường sống của cá nhân trong khu vực. Tuy nhiên, Van de Valde và cộng sự (2010) lại cho rằng sự tham gia là quá trình tham gia trong một hoạt động của cuộc sống hoặc là quá trình trải qua các hoạt động theo sự thấu hiểu vấn đề mà trong thực tế khu vực họ đang sống. Sự tham gia của người dân Sự tham gia của người dân được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào hoạt động, mức độ… mà người dân tham gia. Theo Florin và Wandersman (1990) cho rằng sự tham gia của ngườiidân là một quá trình trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chương trình và môi trường ảnh hưởng đến họ.
Choguilli (1996) cho rằng sự tham gia của người dân không chỉ là một phương tiện để người dân có thể tác động đến các quyết định trên chính trường về các vấn đề ảnh hưởng đến họ mà còn là một phương tiện để đạt được lợi ích cộng đồng, cá nhân thông qua các sáng kiến hỗ trợ lẫn nhau và có thể với sự trợ giúp từ bên ngoài là chính phủ hoặc các tổ chức phi chính phủ. Harding và cộng sự (2009) đã phân tích khái niệm “sự tham gia của cộng đồng” theo hai thuật ngữ thành phần “sự tham gia” và “cộng đồng”. “Sự tham gia” 123doc 6 đặc biệt trong lĩnh vực môi trường được hiểu là quá trình đối thoại giữa cộng đồng và người ra quyết định, giữa một bên là cá nhân, nhóm tổ chức và một bên là “nhóm chính quyền” trong việc thảo luận và ra các quyết định môi trường. Thuật ngữ “cộng đồng” bao gồm tất cả các chủ thể đóng góp hay bị ảnh hưởng bởi quyết định môi trường, bao gồm những người hoạch định chính sách, chuyên gia, doanh nhân, các cá nhân thụ hưởng, tổ chức dân sự và nhóm người dân.
Như vậy, cộng đồng được hiểu là một khái niệm có nội hàm khá rộng, bao gồm tất cả các thành viên cùng sinh sống trong một khu vực địa lý, có những đặc điểm chung về lối sống và các điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa, chính trị. Sách Institute for Social Participation and Health Issues Centre của La Trobe University (2011) cho rằng sự tham gia của xã hội được xem là quá trình tham gia của người tiêu dùng, xuất phát từ người tiêu dùng kết nối hòa nhập với xã hội và các hoạt động dựa trên lợi ích của người tiêu dùng. Theo nội dung của sự tham gia xã hội, ba thành phần trung tâm trong mô tả về sự tham gia của xã hội cho phép mọi người dân được thực hiện các mức đo trong sự tham gia xã hội để tự đánh giá; các yếu tố có liên quan đến các khái niệm về lợi ích xã hội, hòa nhập xã hội và quyền con người của cá nhân để thực hiện các mức đo tự xác định của sự tham gia trong tất cả các khía cạnh của xã hội và trách nhiệm của xã hội để cung cấp các điều kiện cần thiết cho việc các hoạt động được đề xuất. Theo Scand (2013) thì khái niệm về sự tham gia của xã hội có tính tương đồng và tương quan với sự tham gia và đồng thời liên quan đến khái niệm về các vấn đề của tham gia xã hội, hòa nhập xã hội hoặc các hoạt động của xã hội.
Cuối cùng, sự tham gia của người dân đóng một vai trò quan trọng trong quản lý công, sự tham gia của xã hội chủ yếu tập trung vào mức độ tham gia của người dân đó như thế nào vào các hoạt động cung cấp và có tương tác như thế nào với người khác trong xã hội hoặc trong cộng đồng sinh sống. Sự tham gia của người dân còn được nhấn mạnh rằng là sự tham gia có thể nhìn thấy trên một hoạt động liên tục từ tương đối thụ động đến rất tích cực và cho rằng sự tham gia của người dân có thể được trên cơ sở tự nguyện hoặc là bắt buộc. Mức độ tham gia của người dân Theo nghiên cứu của Arntein (1969, 1971) thì sự tham gia của người dân có 08 mức độ có xu hướng mở rộng dần của quyền lực công dân trong việc định đoạt sản phẩm cuối cùng: từ việc tham gia bị thay thế bởi người nắm giữ quyền lực tới việc công dân được trao quyền quản lý đầy đủ; cụ thể: (1) Sự vận động – Bị điều khiển. (2) Liệu pháp: giai đoạn chưa thể hiện sự tham gia mà chỉ nhằm đào tạo những người tham gia.
(3) Thông tin – đây là bước quan trọng đầu tiên nhằm thúc đẩy sự tham gia nhưng thông tin chỉ mang tính một chiều mà không có sự phản hồi. (4) Tham vấn – khảo sát thái độ, tổ chức cuộc họp. Chính quyền sẽ khảo sát thái độ, tổ chức các cuộc họp và tham khảo ý kiến cộng đồng, người dân sẽ trả lời câu hỏi khảo sát và tham gia ý kiến. Những ý kiến này chỉ dùng để tham khảo, họ không được ra quyết định.
Thông thường đây chỉ là bước hình thức. (5) Động viên – khen thưởng. Có sự chia sẻ quyền lực và trách nhiệm giữa các bên có liên quan. Các bên có trách nhiệm trong việc lên kế hoạch và ra quyết định trong quá trình thực hiện công việc.
Người dân thể hiện quyền lực bằng cách bầu ra một ủy ban để thực hiện chương trình hoặc những ý kiến đóng góp của người dân được lắng nghe và ghi nhận. (6) Hợp tác – người dân và nhà cầm quyền cùng phối hợp và cả hai đều phải có trách nhiệm về việc lên kế hoạch, ra quyết định. Người dân nắm đa số các vị trí trong ủy ban và có quyền quyết định cao hơn các bên có liên quan khác thông qua việc đàm phán. Do có quyền cao hơn nên người dân phải chịu trách nhiệm trong các quyết định của mình (8) Người dân kiểm soát, có quyền ra quyết định.
Đến giai đoạn này, người dân khởi xướng công việc nhằm giải quyết nhu cầu của họ, đồng thời huy động nguồn lực để thực hiện dự án. Ở nấc thang này, người dân thực hiện toàn bộ công việc lập kế hoạch, hoạch định chính sách và quản lý một chương trình. 123doc 8 Ở nấc thang dưới cùng, người dân không tham gia vào bất cứ hoạt động nào của chương trình, đây chỉ là bước vận động để có thể lôi kéo, thu hút người dân tham gia vào chương trình mà chắc chắn tại bước này họ sẽ nhận được lợi ích. Ở ba nấc thang tiếp theo, mặc dù chỉ là hình thức, nhưng người dân đã nhận thức được lợi ích từ chương trình, từ đó từng bước tham gia vào các hoạt động: Từ cung cấp thông tin một chiều thông qua khảo sát của chính quyền đến việc tham vấn, đưa ra các ý kiến về vấn đề tại địa phương.
Ở ba nấc thang cao nhất, người dân thực sự là chủ thể của chương trình, từ việc hợp tác đến ủy quyền thực hiện và trực tiếp quản lý. Thang đo này được mô tả như sau: Người dân quản lý Ủyiquyền Ngườiidân được trao quyền Hợpitác Độngiviên Thamigia mang Sự thamigia của Thamivấn tính hình thức ngườiidân Cungicấp thôngitin Liệuipháp Không thamigia Vận động Hình 2. Thangiđo về sự thamigia của ngườiidân theo Arntein Nguồn: Arntein (1969, 1971) Theo nghiên cứu của Andre và Lanmafankpotin (2012), tùy vào nhận thức, văn hóa và điều kiện địa lý của từng vùng khác nhau mà mức độ tham gia của người dân vào công việc phát triển cộng đồng thể hiện ở các mức độ khác nhau và được chia thành 6 mức độ theo thứ tự tăng dần từ thấp đến cao như sau: 123doc 9 (1) Tham gia thụ động (Passive Participation): Tham gia một cách bị động, thực hiện theo sự chỉ bảo, không chủ động tham gia vào quá trình ra quyết định. (2) Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin (Participation as contributor): Người dân tham gia trả lời các câu hỏi điều tra, không tham gia vào quá trình phân tích và sử dụng thông tin.
(3) Tham gia như nhà tư vấn (Participationias consultans): Người dân được tham vấn và đưa ra ý kiến về các vấn đề. (4) Tham gia trong việc thực hiện (Participationiin Implemetation): Người dân lập nhóm để thực hiện chương trình nhưng không tham gia ra quyết định. (5) Tham gia trong quá trình ra quyết định (Participationiin decision – marking): Người dân chủ động tham gia vào quá trình phân tích, lập kế hoạch và tham gia vào quá trình ra quyết định. (6) Tham gia tự nguyện (self – mobilization): Người dân thực hiện, không có sự hỗ trợ, định hướng từ bên ngoài.
Thamigia tựinguyện Thamigia trong quá trình ra quyếtiđịnh Thamigia trong việc thựcihiện Thamigia như nhàitư vấn Thamigia thôngiqua việc cungicấp thông tin Thamigia thụiđộng Hình 2. Những mứciđộ thamigia của người dânitheo Andreivà Lanmafankpotin. Nguồn: Andre và Lanmafankpotin (năm 2012) 123doc 10 Hoặc theo Dower (1996) chia mức độ tham gia của người dân thành 5 cấp độ từ thấp đến cao, mức độ càng cao thì vai trò, trách nhiệm của cộng đồng càng được đòi hỏi nhiều hơn. Được mô tả như sau: Traoiquyền Hợpitác Thamigia Tưivấn Thôngitin Hình 2.
Những mứciđộ thamigia của ngườiidân theo Dower.